Những thành tựu và đóng góp về khoa học - công nghệ của Học viện Cảnh sát nhân dân cho sự nghiệp bảo đảm an ninh, trật tự

1. Xây dựng, phát triển và trang bị hệ thống tri thức khoa học Công an cho lực lượng Công an nhân dân là vấn đề có ý nghĩa sống còn trong sự nghiệp bảo đảm an ninh, trật tự của đất nước

 Ở Việt Nam, khi Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc phòng -an ninh, bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng và giao nhiệm vụ cho Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND) - là lực lượng vũ trang, nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược đó của Cách mạng thì QĐND, CAND nghiễm nhiên phải trang bị cho mình hệ thống lý luận về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Thực tế, trong suốt chặng đường lịch sử đã qua, Lực lượng CAND đã vừa chiến đấu vừa xây dựng và trưởng thành trên mọi mặt, trong đó có phương diện lý luận về bảo vệ an ninh quốc phòng (ANQG), bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (TTATXH). Nếu không có lý luận khoa học, không có trang bị kỹ thuật, công nghệ thì lực lượng CAND không thể hoàn thành nhiệm vụ; không thể giữ được vai trò chủ lực, nòng cốt, xung kích trên mặt trận an ninh, trật tự (ANTT). Nói cách khác, thiếu kiến thức khoa học, công nghệ, lực lượng CAND không thể thành công trong sự nghiệp ANTT; không thể đứng vững ở vị trí tiên phong trong đấu tranh vì nền ANTT của Tổ quốc.

Chính hệ thống lý luận riêng về phương thức tổ chức, hoạt động, nghệ thuật, phương pháp, chiến thuật và các biện pháp mang tính khoa học, đặc thù riêng của Công an nhân dân được đúc kết từ thực tiễn, kiểm nghiệm qua thực tiễn và được soi sáng bởi tư duy lý luận khoa học trở thành hệ thống lý luận nghiệp vụ của Ngành Công an. Đó cũng là một quá trình phấn đấu không ngừng nghỉ của các nhà nghiên cứu lý luận, các nhà lãnh đạo chỉ huy ở các cấp qua các thời kỳ, nhằm vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng của Đảng ta để nghiên cứu tiếp thụ những tinh hoa văn hóa, nghệ thuật, chiến thuật và phương pháp đấu tranh bảo vệ chế độ chính trị, giữ gìn trật tự của nhân loại, đồng thời phân tích, tổng hợp, tổng kết những kinh nghiệm, những bài học thực tiễn đấu tranh chống thù trong giặc ngoài bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Đảng và Nhà nước, chế độ xã hội. Bác Hồ nói: làm Cách mạng mà không có lý luận soi sáng thì… Vì thế, khi lịch sử có những chuyển biến lớn, khi nhân loại và dân tộc đứng trước những thời cơ và vận hội, những thách thức lịch sử mới thì vấn đề tổng kết lý luận, phát triển lý luận, để đáp ứng đòi hỏi của lịch sử càng đặt ra một cách gay gắt. Các thế hệ lãnh đạo Bộ Công an đều rất quan tâm đến phát triển khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp ANTT của đất nước.

Căn cứ vào những chức năng cơ bản của CSND (CSND), việc nghiên cứu, tổng kết, phát triển lý luận nghiệp vụ cũng cần được định hướng trên ba chủ hướng nhằm hoàn thiện lý luận CAND trên cả ba lĩnh vực tham mưu chiến lược cho Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực đấu tranh bảo đảm ANTT của Tổ quốc; thực hiện hiệu quả cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm; tối ưu hóa hoạt động quản lý nhà nước đối với nền ANTT của đất nước. Trên cả ba chủ hướng đó đều cần hoàn thiện lý luận nghiệp vụ để bảo đảm kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố chính trị - pháp luật và Nghiệp vụ trong bất cứ nhiệm vụ, vấn đề, tình huống, hoàn cảnh nào. Yêu cầu nhuần nhuyễn các yếu tố chính trị, pháp luật, nghiệp vụ được xác lập trên cơ sở tư tưởng: Pháp luật của chúng ta là pháp luật phản ánh ý chí Nhân dân, ý chí đó được soi đường dẫn lối bởi đường lối chính trị đúng đắn của Đảng; và với tư cách cánh tay đắc lực của Đảng, nghiệp vụ của Công an là nghiệp vụ chính trị. Tính nhuần nhuyễn đó định hướng cho các công trình nghiên cứu, tổng kết và phát triển lý luận nghiệp vụ Công an.

Lý luận khoa học quản lý đã làm rõ một vấn đề có tính nguyên tắc trong Quản lý nhà nước về ANTT, đó là sự phân định rõ ràng về thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng trong quản lý ngành, lĩnh vực. Trên thế giới cũng như thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, Bộ được lập ra để quản lý ngành, lĩnh vực. Vì thế, cơ quan an ninh, cảnh sát là một cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền riêng, chịu trách nhiệm trước nhà nước và xã hội về lĩnh vực ANTT. Bộ Công an Việt Nam, theo quy định của pháp luật, giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ANTT trên phạm vi cả nước.

Khi nói đến Công an như một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ bảo vệ ANTT chung ở một quốc gia và là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về ANTT của một đất nước thì nghiệp vụ Công an cũng định hình trên hai chủ hướng: nghiệp vụ quản lý ANTT và nghiệp vụ đấu tranh bảo vệ ANTT của đất nước. Hai chủ hướng đó hoàn toàn là những bộ phận hợp thành của nhiệm vụ chiến lược quốc phòng - an ninh ở các quốc gia.

Nghiệp vụ quản lý ANTT của ngành Công an được hiểu là tổng hợp có hệ thống những kiến thức về cách thức, phương pháp, biện pháp chuyên môn đặc thù cho lĩnh vực hoạt động an ninh, cảnh sát được vận dụng kết hợp với quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành trên lĩnh vực ANTT. Điều này cần được hiểu thấu đáo và không nhầm lẫn giữa việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo luật định với việc thực hiện nghiệp vụ công an trong quản lý ANTT. Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo luật định mà pháp luật giao cho ngành Công an với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền riêng trên lĩnh vực ANTT, theo đó, Bộ Công an giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trên lĩnh vực này, khác biệt tương đối với việc thực hiện nghiệp vụ Công an trong quản lý ANTT, khi mà các lực lượng Quản lý hành chính nhà nước trên lĩnh vực an ninh quốc gia và Quản lý hành chính nhà nước trên lĩnh vực TTATXH phải sử dụng những kiến thức chuyên ngành, riêng có để nắm bắt thông tin và quản lý các đối tượng có nguy cơ xâm hại ANTT, áp dụng các biện pháp công tác Công an để giải quyết các vấn đề này.

Bên cạnh đó, pháp luật nhà nước xã hội chủ nghĩa thừa nhận, CAND lại là một bộ phận trong bộ máy bảo vệ pháp luật, cùng tham gia thực hiện chức năng bạo lực trấn áp đối với các hành vi xâm hại đến Nhà nước, xã hội và công dân. Hệ thống tri thức khoa học pháp lý; tri thức về hoạt động vũ trang và trang bị vũ khí, khí tài, các phương tiện chiến đấu khác cũng là yêu cầu tất yếu khách quan. Điều này cũng đòi hỏi quá trình đào tạo phải trực tiếp góp phần xây dựng ở đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CSND một hệ thống tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Nghiệp vụ điều tra, nghiệp vụ trinh sát được hiểu một cách khái quát nhất như là những kiến thức tổng hợp hệ thống về phương thức hoạt động và các biện pháp chuyên môn đặc biệt, đặc thù cho lĩnh vực hoạt động an ninh, Cảnh sát nhằm đi sâu nắm bắt thông tin về tình hình liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội để có giải pháp khoa học, hợp lý và kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, khám phá, trấn áp và điều tra làm rõ những âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động của tất cả các loại đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia, TTATXH.

Ngày nay, đứng trước những biến đổi mạnh mẽ của thực tiễn xã hội, trong dòng chảy thác cuộn của cách mạng 4.0, nghiên cứu, tổng kết và phát triển lý luận nghiệp vụ Công an trở thành một nhu cầu khách quan, bức thiết.

Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH trong điều kiện mới của lịch sử thế giới, phải phản ứng nhanh nhạy, kịp thời và hiệu quả trước những biến động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước. Điều đó đòi hỏi phải theo kịp những thành tựu của cách mạng 4.0, sử dụng những thành tựu của cách mạng 4.0 cho các nhiệm vụ cụ thể của chúng ta.  

Trên tất cả các phương diện của chức năng tham mưu, tác chiến hay quản lý nhà nước, quản lý xã hội yêu cầu đặt ra đối với nghiệp vụ công an trong điều kiện mới đều cần những thay đổi mạnh mẽ về phương thức hoạt động và biện pháp công tác. Điều đó đòi hỏi phải cập nhật những thành tựu khoa học, công nghệ và đổi mới mạnh mẽ lý thuyết. Vì thế, vai trò của việc nghiên cứu, tổng kết lý luận nghiệp vụ công an ở các trung tâm khoa học - đào tạo lớn của ngành Công an là hết sức to lớn.

2. Sự nghiệp an ninh trật tự đang ngày càng có nhu cầu to lớn về phát triển hoạt động khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân

Là lực lượng chủ công trên mặt trận giữa gìn trật tự, an toàn xã hội, CSND phải được trang bị đầy đủ kiến thức khoa học một cách có hệ thống để có thể thực hiện nhiệm vụ của mình một cách đúng đắn và hiệu quả tối ưu nhất.

Hệ thống nhà trường CSND sinh ra là để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó. Học viện CSND, trường đầu ngành và là cái nôi ban đầu của hệ thống này có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình hình thành hệ thống tri thức khoa học CSND cũng như luôn luôn giữ vai trò đầu tàu dẫn dắt những tiến bộ khoa học của ngành Cảnh sát trong suốt mấy chục năm qua. Đặc biệt, từ khi được tách thành một trường độc lập trước những đòi hỏi bức xúc của nền ANTT của đất nước cũng như của chính bản thân mình, Học viện CSND (tiền thân là Trường CSND, Đại học CSND) đã không ngừng trưởng thành về mặt khoa học, công nghệ và luôn luôn giữ vai trò đầu tàu, xung kích trên mặt trận khoa học, công nghệ.

Bộ máy CSND là cơ quan trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội. Xét về bản chất đó là cơ quan hành chính nhà nước về lĩnh vực hành chính - chính trị; là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng về lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội. Vì thế, việc Nhà nước trang bị và ngành CSND tự trang bị cho mình hệ thống tri thức lý luận về quản lý nhà nước, quản lý xã hội, hệ thống tri thức chuyên môn nghiệp vụ cũng như phương tiện khoa học kỹ thuật, công nghệ quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả sự nghiệp bảo đảm ANTT là một vấn đề có ý nghĩa tất yếu, khách quan.

Học viện CSND giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc trang bị kiến thức khoa học nói chung và kiến thức Khoa học Công an nói riêng cho lực lượng CAND. Công lao, đóng góp của Học viện CSND cho sự nghiệp khoa học, công nghệ của Ngành Công an và của đất nước Việt Nam là vô cùng to lớn. Quá trình phấn đấu không ngừng nghỉ của Học viện CSND trong 50 năm qua cũng là quá trình đóng góp to lớn cho sự nghiệp nghiên cứu xây dựng, tổng kết và phát triển lý luận nghiệp vụ của Ngành. Từ trường CSND xưa đến Học viện CSND ngày nay, nhà trường luôn thể hiện rõ ràng là một cơ sở giáo dục xung kích, đi đầu trong các lĩnh vực nghiên cứu, xây dựng và phát triển lý luận.

Ngày nay, vai trò to lớn của Học viện CSND trước hết là vị trí đầu ngành trong toàn bộ hệ thống Cảnh sát xét trên phương diện xây dựng lý luận nghiệp vụ, tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận cũng như nghiên cứu dự báo, hoàn thiện và phát triển lý luận. Không một cơ sở nào khác có thể thực hiện một cách đồng bộ vai trò đó trên lĩnh vực trật tự an toàn xã hội. Ngay cả những chương trình lớn của Bộ hay của các tổng cục về lĩnh vực TTATXH trên từng phương diện tổng kết thực tiễn hoặc nghiên cứu cơ bản hoặc phát triển lý luận thì đều không thể vắng bóng vai trò của Học viện cảnh sát. Không ở đâu trong ngành Công an có được đội ngũ cán bộ khoa học dồi dào, nhiệt huyết và dày dạn kinh nghiệm nghiên cứu, tổng kết lý luận như Học viện CSND trong mấy chục năm qua. Đến nay, Học viện tiếp tục là đơn vị đầu ngành xét về đội ngũ các nhà khoa học có học hàm, học vị cao và có nhiều công trình khoa học cống hiến cho Ngành, cho xã hội. Những con số về kết quả đào tạo từ Học viện CSND khẳng định vị thế to lớn của cơ sở này. Năm chục năm qua Học viện đã đào tạo hơn 5 vạn Cử nhân Cảnh sát, Cử nhân Luật phục vụ cho nhiệm vụ bảo đảm TTATXH, hơn 6.000 lượt cán bộ lãnh đạo chỉ huy được trang bị những kiến thức về lãnh đạo chỉ huy, về chỉ đạo nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Đặc biệt, sự đóng góp to lớn cho công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn mà Học viện CSND đã làm nên trong những năm qua cần phải được đánh giá cao đó là hơn 2.000 công trình khoa học cấp độ Thạc sĩ và hơn 300 công trình khoa học trình độ Tiến sĩ. Đó thực sự là những công trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và phần nhiều trong số đó có những đóng góp phát triển lý luận của Ngành.

Từ những sản phẩm đào tạo, các nhà khoa học đã và đang công tác giảng dạy nghiên cứu khoa học ở Học viện Cảnh sát nhân dan đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc có tầm cỡ xứng đáng một trung tâm đầu ngành về nghiên cứu khoa học của Ngành Công an. Nếu tính riêng từ giai đoạn sau khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Học viện đã luôn đi đầu trong việc thực hiện những đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ với quan điểm, cách tiếp cận có tính khai phá.

Từ những năm đầu thập kỷ 90 của Thế kỷ trước, khi Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành những Chương trình Khoa học cấp Nhà nước đầu tiên trên lĩnh vực Khoa học xã hội và giao cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) Chương trình KX04-14 thì Đại học Cảnh sát lúc đó (Học viện CSND ngày nay) đã cung cấp bộ khung cán bộ nghiên cứu cho Chương trình đó của Bộ. Sản phẩm của Công trình đã đóng góp xuất sắc cho việc xây dựng lý luận đổi mới tổ chức cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và quản lý nhà nước về TTATXH trong tình hình mới. Đặc biệt, Chương trình đã xây dựng, luận chứng cơ sở lý luận cho Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm đầu tiên ở Việt Nam.

Học viện CSND đã tiên phong nhận nhiệm vụ và tổ chức nghiên cứu thành công đề tài khoa học đầu tiên về “Những cơ sở lý luận và thực tiễn của Quản lý nhà nước về An ninh, Trật tự” ở Việt Nam và trên cơ sở đó kiến nghị Lãnh đạo Bộ cho đưa vào giảng dạy trong nhà trường môn học Quản lý Nhà nước về ANTT. Từ đó phát triển lý luận trên lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu và kiến nghị từ đề tài đó thực sự đã đặt nền móng để đề xuất mở một ngành khoa học mới và một ngành học rộng lớn Quản lý nhà nước về ANTT hiện nay.

Học viện CSND cũng là cơ sở tiên phong trong nghiên cứu chiến lược đào tạo và đề xuất kiến nghị với Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền cho mở hướng đào tạo mới, khắc phục bế tắc đào tạo nhân lực có trình độ cao khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ. Bước đi tiên phong đó đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển hệ trong đào tạo sau đại học hiện nay của Ngành Công an và đóng góp to lớn cho sự nghiệp đào tạo Sau đại học chung của cả nước.

Cũng trong tiến trình đó, Học viện CSND đã xung kích trên mặt trận lý luận, nghiên cứu tổng kết để hệ thống hóa và xây dựng lý thuyết khoa học đồng bộ cho bộ môn Lý luận hoạt động nghiệp vụ trinh sát của CAND; xây dựng hệ thống giáo trình nhất quán với Lý luận khoa học cho toàn môn Lý luận nghiệp vụ trinh sát; cho khoa học Điều tra hình sự để đào tạo lực lượng CSND. Những Giáo trình, sách tham khảo có gáy đầu tiên trong các thư viện nhà trường CAND đã xuất hiện đầu tiên ở Học viện CSND về các lĩnh vực Trinh sát, Điều tra hình sự, Đấu tranh phòng chống tội phạm về Ma túy, Nghiệp vụ cơ bản. Những bước tiến đó đã làm thay đổi tư duy quản lý và xây dựng cơ sở học liệu cho đào tạo đại học và sau đại học của Ngành.

Học viện CSND đã nhạy bén trước những vấn đề và nguy cơ đối với TTATXH và đương đầu với những khó khăn trong nghiên cứu, giải quyết những vấn đề này. Học viện CSND là cơ sở nghiên cứu khoa học đầu tiên ở Việt Nam đặt vấn đề nghiêm túc về nghiên cứu tội phạm có tổ chức và tổ chức lần đầu tiên Hội thảo khoa học về vấn đề này. Chính Hội thảo đầu tiên về Tội phạm có tổ chức ở Học viện CSND (được chuẩn bị từ đầu 1996 và thực hiện vào tháng 3/1997) đã là tiếng chuông thức tỉnh xã hội, là tiếng còi báo động xã hội phải nhìn thẳng vào sự thật của đất nước để có thái độ đúng đắn với hiện tượng xã hội này. Hội thảo này cũng đặt nền móng tư tưởng và lý luận đầu tiên cho các công trình nghiên cứu tội phạm có tổ chức ở Việt Nam.

Học viện CSND là một trong những đơn vị tiên phong trong nghiên cứu về xã hội học Cảnh sát, công trình đầu tiên nghiên cứu mối liên hệ giữa hoạt động cảnh sát với bảo vệ quyền con người ở Việt Nam cũng xuất phát từ Học viện Cảnh sát (1993-1994). Công trình đầu tiên nghiên cứu về bảo vệ môi trường giao cho Học viện Cảnh sát nghiên cứu: “Những vi phạm pháp luật về môi trường - giải pháp phòng chống” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.07.06 giai đoạn 2001 - 2006). Ngày nay, Học viện CSND đang tích cực triển khai nghiên cứu những đề tài cấp Nhà nước về an ninh xã hội, an ninh môi trường nhằm tham mưu cho Đảng những quyết sách lớn về bảo đảm an ninh xã hội, bảo đảm thực hiện Quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp 2013. Những bộ Tổng tập về từng lĩnh vực chuyên ngành được Ban Giám đốc và Hội đồng khoa học nhà trường chỉ đạo biên soạn trong vài năm gần đây như Bộ sách về Tội phạm học Việt Nam, về Lý luận hoạt động nghiệp vụ trinh sát, Khoa học Công an Việt Nam - lý luận về bảo vệ An ninh quốc gia… là những công trình tổng kết có quy mô lớn và hiệu quả xác thực đối với hoạt động đào tạo CAND Việt Nam. Trên đây là một số hoạt động khoa học và kết quả thiết thực mà Học viện CSND đã đóng góp cho sự phát triển khoa học và lý luận của Ngành Công an.  

Ngoài ra rất nhiều công trình khoa học của Học viện CSND đã và đang góp phần thiết thực giải quyết những vấn đề của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự, tội phạm kinh tế, tội phạm ma túy, tội phạm công nghệ cao…

Có thể kể nhiều hơn nữa về sự đóng góp của Học viện CSND trong sự nghiệp nghiên cứu, tổng kết và phát triển lý luận của CAND.

3. Kỷ niệm 50 năm thành lập - một thời điểm lịch sử quan trọng để tiếp tục phấn đấu trở thành đơn vị chủ lực trong nghiên cứu, tổng kết và phát triển lý luận nghiệp vụ Công an

Học viện CSND sẽ trở thành một cơ sở giáo dục Đại học trọng điểm - chuẩn quốc gia khi thực hiện thắng lợi đề án mà Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đã chỉ đạo nghiên cứu, trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đó là cả một hệ thống giải pháp đồng bộ bảo đảm cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự phát triển.

Yêu cầu to lớn, nặng nề của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới trước tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ, tích cực hoạt động nghiên cứu, tổng kết và phát triển lý luận khoa học nghiệp vụ Công an. Đặc biệt những vấn đề an ninh phi truyền thống đã và đang đặt ra hết sức gay gắt đối với công tác lý luận và thực tiễn quản lý ANTT của ngành Công an.

Với tư cách là một cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của Ngành và đang phấn đấu trở thành cơ sở giáo dục trọng điểm chuẩn quốc gia, Học viện CSND phải đi đầu trong việc đổi mới công tác giáo dục - đào tạo để theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tri thức của nhân loại trên lĩnh vực quản lý nhà nước về TTATXH, đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm TTATXH.

Những nghiên cứu thiết thực nhất trước hết cần dành cho đổi mới chương trình, giáo trình và phương pháp giáo dục đào tạo trong nhà trường. Việc giải quyết tốt chương trình khung đào tạo, bảo đảm đáp ứng yêu cầu của tình hình và theo kịp những diễn biến của thời cuộc có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp phát triển của Học viện CSND. Trong những vấn đề liên quan đến đào tạo có những vấn đề về mô hình sản phẩm đào tạo, vấn đề vận dụng các phương thức đào tạo mới, vấn đề đổi mới hệ thống giáo trình, tài liệu học tập và phương pháp tổ chức học tập cho học viên. Cùng với đó là vấn đề đổi mới tư duy và phương pháp đánh giá các công trình khoa học của cán bộ, giảng viên nhà trường cũng như các công trình nghiên cứu khoa học học viên. Một yêu cầu hết sức quan trọng trong các mặt công tác này chính là bám sát những tiến bộ của khoa học công nghệ và khắc phục thói quen dễ dãi trong xử lý, đánh giá những vấn đề mang tính nguyên tắc để bảo đảm tính đồng bộ, tính hệ thống của hệ thống tri thức khoa học của nhà trường.

Nguồn nhân lực khoa học công nghệ luôn là yếu tố quyết định thành bại của nhà trường. Nhà trường đã, đang và cần tiếp tục quan tâm đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, giảng dạy. Chính đội ngũ này sẽ quyết định thành bại việc thực hiện mục tiêu chiến lược của nhà trường. Thông qua sự đóng góp, cống hiến của đội ngũ các chuyên gia, nhà khoa học này mà nâng tầm chất lượng của các công trình, các sản phẩm của Học viện, từ đó không ngừng tăng cường ảnh hưởng của Học viện đối với đất nước, với Ngành.

Một xu hướng hết sức quan trọng cho tương lai không xa là tăng cường tổ chức phối hợp nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài về những lĩnh vực khoa học đã được quốc tế hóa. Nhà trường cần có chiến lược và tổ chức tốt các quan hệ phối hợp này. Cần tạo điều kiện để các nhà khoa học của Học viện có được những bài viết, công trình khoa học được đăng tải ở nước ngoài. Đó là cách thức vừa để nâng cao năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ vừa để khẳng định uy thế của Học viện trong thời kỳ hội nhập sâu vào quan hệ quốc tế. Các cơ chế phối hợp giữa Học viện CSND với Học viện Cảnh sát Hoàng gia Thái lan, Học viện Thi hành án Liên bang Nga, Đại học Cảnh sát Matxcova, Đại học Cảnh sát Quốc gia Hàn quốc, với Đại học Cảnh sát Bắc Kinh, với Viện quản lý Malik (Thụy sỹ), Viện khoa học Bộ Nội vụ Cộng hòa Pháp… Đặc biệt, những hoạt động này đang có thuận lợi khi đẩy mạnh quan hệ của Học viện CSND với các Đại học, Học viện Cảnh sát các nước trong trong khuôn khổ hợp tác APTA mà Học viện CSND tham gia cuối năm 2016 đầu năm 2017 vừa qua.

Tiến tới kỷ niệm niệm 50 năm thành lập, Học viện CSND đã chủ trương thực hiện hàng loạt những công trình khoa học lớn, có giá trị tổng kết lý luận của Ngành cũng như tổng kết lịch sử phát triển nửa thế kỷ qua của chính Học viện. Với gần một trăm đề tài khoa học các cấp, trong đó có 3 đề tài cấp Nhà nước, 4 đề tài cấp Bộ và tương đương cấp Bộ trọng điểm, hơn 40 giáo trình đại học, Sau Đại học và gần 20 cuốn sách chuyên khảo đã và đang được biên tập, in ấn, xuất bản trong dịp này chứng tỏ sức mạnh tiềm tàng và khả năng to lớn của Học viện trong việc giải quyết những bài toán của Khoa học Công an. Đây là những công trình có ý nghĩa khoa học sâu sắc và là một hệ thống giải pháp đồng bộ để tiếp tục tiến trình phát triển và xây dựng Học viện CSND trở thành đơn vị chủ lực trong nghiên cứu, tổng kết và phát triển lý luận nghiệp vụ Công an.

Thiếu tướng, GS.TS Hồ Trọng Ngũ

Nguyên Phó Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân

Gửi cho bạn bè

Các tin khác