Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thực hiện chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025

Phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, do các cơ quan bảo vệ pháp luật và lực lượng chuyên trách làm nòng cốt. Thực hiện Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm đến năm 2020, các ngành, các cấp do các lực lượng chuyên trách làm nòng cốt đã triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều nội dung, biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, công tác phòng, chống tội phạm ở nước ta đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần tích cực giữ gìn trật tự, kỷ cương pháp luật, phục vụ công cuộc phát triển đất nước.

Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2018, số vụ phạm pháp hình sự trên địa bàn cả nước giảm 4,03% so với cùng kỳ năm 2017, tỷ lệ điều tra khám phá đạt 80,37% (vượt chỉ tiêu Quốc hội giao). Hàng chục nghìn băng nhóm tội phạm hình sự nguy hiểm, đường dây mua bán vận chuyển ma túy xuyên quốc gia đã được triệt phá, bóc gỡ; hàng trăm tổ chức tội phạm và băng nhóm tội phạm hình sự hoạt động theo kiểu “xã hội đen” đã được ngăn chặn; các vụ trọng án nghiêm trọng, án kinh tế, tham nhũng lớn gây bức xúc trong dư luận xã hội đều được khẩn trương điều tra, xử lý, quá trình điều tra khám phá đã được Quốc hội, cử tri và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, đồng tình ủng hộ. Đặc biệt, nhiều âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, nhiều vụ việc phức tạp liên quan đến gây rối, khủng bố, phá hoại... đã được kịp thời phát hiện, ngăn chặn. Qua đó, tình hình tội phạm ở các thành phố lớn cơ bản được kiềm chế, an ninh trật tự trên địa bàn cả nước được đảm bảo.

Đạt được những kết quả trên là do đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sức mạnh tổng hợp của xã hội và sự cố gắng, nỗ lực không mệt mỏi của các lực lượng chuyên trách, mà chủ công, nòng cốt là lực lượng Công an nhân dân trong công tác phòng, chống tội phạm.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, tình hình tội phạm ở nước ta trong thời gian qua vẫn có những diễn biến phức tạp. Tội phạm, vi phạm pháp luật tuy giảm về số vụ, nhưng tính chất vẫn nghiêm trọng, cường độ bạo lực có xu hướng gia tăng, một số loại tội phạm chưa được kiềm chế, trong đó nổi lên là tội phạm do người chưa thành niên gây ra và tội phạm có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, tội phạm có tổ chức, băng nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, tội phạm về ma túy hoạt động ngày càng manh động và liều lĩnh; tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại hoạt động công khai, lộng hành ở nhiều thành phố lớn, trên các tuyến biên giới, trắng trợn xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, xã hội và nhân dân. Tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường xảy ra trong nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế của đất nước, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của người dân và sức khỏe cộng đồng. Tham nhũng và tội phạm tham nhũng vẫn hết sức nhức nhối, trở thành một trong những mối đe dọa trực tiếp sự tồn vong của chế độ. Đồng thời, đã xuất hiện nhiều loại tội phạm mới trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng; tội phạm về môi trường; tội phạm sử dụng công nghệ cao; tội phạm có tính quốc tế, hoạt động xuyên quốc gia... Tình hình trên đang đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan chức năng, mà đặc biệt là lực lượng Công an nhân dân trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. 

Có thể khẳng định, dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta ngày càng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều nguồn lực để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi. Trong đó, đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả hoạt động phòng, chống tội phạm.

Nguồn nhân lực trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm có thể hiểu là tổng thể số lượng và chất lượng con người tạo nên năng lực hoạt động có hiệu quả, đem lại những thành tựu và đáp ứng được yêu cầu trong công tác phòng, chống tội phạm. Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực được coi là nguồn “tài nguyên đặc biệt”, đóng vai trò then chốt trong các nguồn lực. Việc đầu tư cho con người, hay nói cách khác là đào tạo nguồn nhân lực, không chỉ là hoạt động mang tính chiến lược, mà còn là cơ sở, nền tảng đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Nhận thức rõ vai trò đó, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao là mục tiêu hàng đầu trong các học viện, nhà trường Công an nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà chiến lược Quốc gia phòng, chống tội phạm đã đề ra.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục, đào tạo của Đảng và Nhà nước, những năm qua công tác giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân đã có bước phát triển mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước hòa nhập với tiến trình đổi mới chung của nền giáo dục quốc dân, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Hệ thống các trường Công an nhân dân được củng cố và phát triển; nội dung chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy từng bước hoàn thiện, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với yêu cầu thực tiễn; ngành nghề đào tạo được mở rộng, công tác bồi dưỡng cán bộ được đẩy mạnh; đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục được tăng cường về số lượng và chất lượng, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, đào tạo; trình độ, năng lực, phương pháp sư phạm được nâng cao. Quan hệ hợp tác về đào tạo với các cơ sở đào tạo của các bộ, ngành ngày càng mở rộng; công tác hợp tác quốc tế về đào tạo ngày càng đa dạng, phong phú và có hiệu quả thiết thực.

Mặc dù đã có những bước phát triển đáng tự hào, tuy nhiên, để đáp ứng thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà chiến lược Quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030, công tác giáo dục, đào tạo trong lực lượng Công an nhân dân cần tiếp tục phải có sự đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng cao năng lực đào tạo, góp phần vào việc phát triển nguồn nhân lực của lực lượng phòng, chống tội phạm với những giải pháp cơ bản sau:

Một là, các cấp lãnh đạo, các cơ quan quản lý, các cơ sở đào tạo cần nhận thức sâu sắc việc phát triển giáo dục đào tạo trong CAND phải trên cơ sở quán triệt thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về phát triển giáo dục đào tạo; vừa đảm bảo phù hợp về cơ cấu, hệ thống và hòa nhập với hệ thống giáo dục quốc dân vừa có tính đặc thù riêng của ngành Công an nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH. Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành Công an phải phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của Quốc gia và tiếp cận với xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế.

Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải luôn nhận thức và xác định giáo dục đào tạo có vị trí then chốt trong công tác xây dựng lực lượng CAND, giáo dục đào tạo phải đi trước một bước. Tuy nhiên, mở rộng quy mô phải đi liền với nâng cao chất lượng đào tạo; trong đó, ưu tiên hàng đầu là đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo. Trên cơ sở nhu cầu bố trí, sử dụng cán bộ của từng lực lượng, từng đơn vị địa phương trong tình hình mới để hoạch định kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự trong mọi tình huống, không chỉ trong những năm trước mắt mà còn chuẩn bị đội ngũ tiếp cận, đảm đương nhiệm vụ cho những năm tới.

Mặt khác, cần tiếp tục đổi mới nhận thức và tư duy của cán bộ quản lý giáo dục từ cấp Bộ đến các cơ sở đào tạo theo hướng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, nâng cao trách nhiệm của cơ sở đào tạo, tăng cường kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, xác định hệ thống quản lý thông suốt, nhịp nhàng, tránh chồng chéo, đảm bảo hiệu quả và chất lượng. Trong đổi mới quản lý đào tạo phải tiến hành đồng bộ, từ các cơ quan quản lý đào tạo đến các cơ sở đào tạo, theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của các trường.

Hai là, Bộ Công an cần nghiên cứu xác định rõ quy mô và mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đối với hệ lực lượng phòng, chống tội phạm.

Về quy mô đào tạo, cần tiến hành khảo sát đánh giá tổng thể về nhu cầu đào tạo cán bộ làm công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm của Công an các đơn vị, địa phương để hoạch định chuẩn về quy mô đào tạo. Việc xác định quy mô phải được tính toán khoa học, vừa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị, vừa bù đắp được hao hụt tự nhiên, vừa đảm bảo nâng cao dần trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tội phạm hiện có theo các định hướng mục tiêu đã được Nhà nước và Ngành Công an xác định. Trên cơ sở đó để có phương án đầu tư và chuẩn bị các điều kiện đảm bảo đi trước một bước để đáp ứng cho nhu cầu đào tạo.

Bên cạnh đó, do quy mô đào tạo được xác định từ nhu cầu thực tiễn cần bổ sung cán bộ cho các lực lượng phòng, chống tội phạm cụ thể, do đó cần phải tính đến các ngành và chuyên ngành đào tạo phù hợp để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, Bộ Công an cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống ngành, chuyên ngành đào tạo, tính toán đồng bộ từ đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ và cử nhân; tập trung vào đào tạo các chuyên ngành phòng, chống tội phạm đặc thù liên quan trực tiếp đến bố trí nguồn nhân lực hiện tại và nhu cầu phát triển trong tương lai; xây dựng một số chương trình đào tạo chuyên ngành có thương hiệu và chất lượng cao của Việt Nam và khu vực.

Về mục tiêu đào tạo, cần xác định việc đổi mới mục tiêu là tất yếu trong quá trình đào tạo, đặc biệt trước những thay đổi nhanh chóng của xã hội, mục tiêu đào tạo cán bộ Công an cũng có những thay đổi cho phù hợp, thích ứng. Mặt khác, trong đổi mới mục tiêu cần đổi mới cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện mục tiêu. Trên cơ sở nhận thức toàn diện về mục tiêu đào tạo, cần xác định đầy đủ những vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo, xác định chuẩn đầu ra và các tiêu chuẩn đầu ra đạt chuẩn. Qua đó, các nhà trường cần đổi mới toàn diện quá trình đào tạo, tất cả các khâu, các quá trình và điều kiện đảm bảo cho công tác giáo dục đào tạo đều phải hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo.

Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất đến chất lượng của sản phẩm đào tạo là người học, vì sản phẩm của giáo dục đào tạo chính là sự phát triển nhân cách của người học và bản thân người học phải có tố chất và phẩm chất tâm lý cần thiết; có tư cách, lối sống theo chuẩn mực; có động cơ mục đích học tập đúng đắn và phải qua quá trình học tập, rèn luyện gian khổ để đạt được mục tiêu đào tạo ở mức cao nhất. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng chất lượng nguồn tuyển sinh, đặt mục tiêu chất lượng lên hàng đầu; có chính sách thu hút học sinh tài năng; nâng cao nghĩa vụ, trách nhiệm của người học đối với chất lượng đào tạo.

Ba là, xây dựng chương trình đào tạo hiện đại, chú trọng đào tạo đội ngũ giảng viên đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phòng, chống tội phạm.

Các cơ sở đào tạo của Bộ Công an cần nghiên cứu để xây dựng các chương trình đào tạo đạt chuẩn, hiện đại; tổ chức lại quá trình đào tạo để từng bước tiếp cận đào tạo theo tín chỉ, nâng cao năng lực thực hành, năng lực tự học và tính chủ động trong học tập của học viên. Thường xuyên rà soát, chỉnh lý bổ sung nội dung chương trình đào tạo phù hợp và cập nhật thực tiễn theo hướng tăng cường bồi dưỡng các khối kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phòng, chống tội phạm. Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng và cải tiến đồng bộ phương pháp dạy học trong nhà trường, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học viên, tăng cường rèn luyện và nâng cao năng lực nghiệp vụ và kỹ năng thực hành cho học viên, phù hợp với các chuyên ngành đào tạo. Tăng cường nghiên cứu và sử dụng các tình huống nghiệp vụ vào giảng dạy, rèn luyện khả năng vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Bên cạnh việc thiết kế các chương trình đào tạo đạt chuẩn, cần phải chú trọng chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên trong CAND, có biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Nâng cao năng lực đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ để bổ sung cho đội ngũ giáo viên các trường. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong các trường CAND phải được xây dựng trở thành đội ngũ mẫu mực nhất trong nhà trường, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, gương mẫu trong sinh hoạt, phong cách làm việc để thực sự là tấm gương đạo đức và lao động sáng tạo cho học viên noi theo. Xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo CAND có trình độ chuyên môn sâu, phương pháp sư phạm giỏi, có kiến thức tin học, ngoại ngữ, có hiểu biết xã hội, có phẩm chất, nhân cách và đạo đức nghề nghiệp trong sáng.

Bên cạnh đó, công tác quản lý, giáo dục học viên trong các trường CAND cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng nâng cao tính chủ động, tự giác của người học; đổi mới hình thức, nội dung các phong trào thi đua học tốt, rèn luyện tốt trong học viên theo hướng thiết thực, hiệu quả. Các cơ sở giáo dục trong CAND phải đặc biệt coi trọng việc giáo dục đạo đức lối sống cho học viên, đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; học tập thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy CAND; thực hiện cuộc vận động CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ; CAND chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ. Cần kiện toàn bộ phận làm công tác quản lý đào tạo, quản lý học viên; đổi mới nội dung và phương pháp quản lý, xây dựng quy trình làm việc khoa học, hợp lý, phòng ngừa tiêu cực. Xây dựng, giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý có đủ phẩm chất, năng lực, thật sự gắn bó và có ý thức trách nhiệm cao đối với công tác quản lý giáo dục học viên.

Bốn là, đổi mới phương pháp giảng dạy, triệt để khai thác và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trong dạy học.

Nhằm tránh tình trạng nặng về lý thuyết, quá trình tổ chức các hoạt động đào tạo trong các trường CAND cần sinh động, thực tiễn hóa, mô hình hóa một số khâu, một số quá trình để phù hợp, mang “hơi thở” của thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Theo đó, các nhà trường cần tăng cường phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ để trao đổi, hội thảo nhằm xác định nội dung, phương pháp đào tạo học viên các chuyên ngành, nhất là các chuyên ngành điều tra, trinh sát; gắn kết giữa giảng dạy lý thuyết với thực hành, thực tập; nghiên cứu xây dựng các tình huống nghiệp vụ vào giảng dạy; áp dụng hình thức thực tập môn học đối với các môn nghiệp vụ chuyên ngành. Đảm bảo cho sinh viên cập nhật kiến thức, phát huy tính chủ động của sinh viên trong học tập và nghiên cứu khoa học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra.

Trong bối cảnh thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đào tạo trong Công an nhân dân nói riêng đang có những thuận lợi cơ bản để đón nhận cơ hội phát triển mà cuộc cách mạng công nghiệp này mang đến. Các nhà trường cần nhanh chóng, nghiêm túc nghiên cứu, triển khai mô hình đại học thông minh và áp dụng mô hình giáo dục 4.0 trong quá trình tổ chức đào tạo; tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư phương tiện dạy học hiện đại như giảng đường thông minh, thư viện thông minh, bục giảng thông minh, bảng tương tác thông minh… Chú trọng nghiên cứu, ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ vào thiết kế, xây dựng hồ sơ, giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu dạy học, sách tham khảo theo các trình độ, chuyên ngành đào tạo và môn học đảm bảo đủ cho học viên nghiên cứu, tự học, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin. Đặc biệt, cần trang bị hệ thống mạng nội bộ và hệ thống thông tin kết nối chất lượng cao, thông suốt giữa các cơ sở đào tạo với Công an các đơn vị, địa phương để thường xuyên có sự trao đổi, gắn kết giữa lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Năm là, tiếp tục mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.

Trước bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, nhiều vấn đề mới trong phòng, chống các loại tội phạm xuyên quốc gia sẽ tiếp tục phát sinh, tội phạm có yếu tố nước ngoài sẽ có chiều hướng gia tăng nhanh chóng. Do đó, Bộ Công an cần tiếp tục chủ động đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ hợp tác quốc tế trên cơ sở có chọn lọc, mở rộng quan hệ với các cơ sở đào tạo Cảnh sát trong khuôn khổ các chương trình hợp tác quốc tế và khu vực.

Với nội dung đó, trong những năm tới, Bộ Công an cần liên kết toàn diện trong công tác giáo dục đào tạo với các trường đào tạo ngành Luật, Tội phạm học, Hành chính công… để tham khảo, học tập một số chương trình đào tạo, phương thức tổ chức đào tạo. Đồng thời, tranh thủ khai thác có hiệu quả các nguồn tài trợ quốc tế nhằm tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo trong Công an nhân dân. Đẩy mạnh hợp tác trao đổi với các học viện, trường Công an, Cảnh sát của các nước có quan hệ truyền thống và các nước trong khu vực để đào tạo giáo viên, kinh nghiệm trong giáo dục đào tạo, trao đổi học viên. Tăng cường phối hợp thực hiện chương trình nghiên cứu song phương với các học viện, nhà trường các nước và các dự án ODA do nước ngoài tài trợ, khuyến khích và tạo điều kiện cho các nhà khoa học về lĩnh vực Cảnh sát, An ninh của các nước trên thế giới tới hợp tác nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học quốc tế về các vấn đề phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài...

Thiếu tướng, GS.TS Trần Minh Hưởng - Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân

MỚI CẬP NHẬT

XEM NHIỀU NHẤT