Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong cơ sở đào tạo trước hết là công việc giáo dục nhận thức và phương pháp tư duy. Người học cần hiểu nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời có khả năng dùng tri thức, chứng cứ và lập luận để xem xét những vấn đề đang đặt ra. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch [1]. Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh [2]. Các yêu cầu đó trực tiếp liên quan đến cách tổ chức lớp học lý luận chính trị.
Môi trường truyền thông số làm thay đổi tình huống dạy học. Sinh viên có thể tiếp cận văn kiện chính thức, dữ liệu thực tiễn, ý kiến phê bình, thông tin thiếu kiểm chứng và cả nội dung được tạo bằng trí tuệ nhân tạo trong cùng một luồng tin. Việc truyền đạt kết luận có sẵn, nếu thiếu quá trình giải thích và đối chiếu chứng cứ, khó giúp người học tự xử lý một nhận định mới. Ngược lại, biến giờ học thành nơi gán nhãn mọi câu hỏi khác biệt là “thù địch” có thể làm mất cơ hội rèn luyện tư duy khoa học. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới tạo thêm cơ sở để đổi mới cách tiếp cận, chú trọng chất lượng học tập và năng lực dẫn dắt nhận thức trong môi trường thông tin mới [3], [4].
1. Cơ sở lý luận và yêu cầu đối với giảng dạy lý luận chính trị
- Từ truyền thụ tri thức đến hình thành năng lực lập luận
Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị là cách giảng viên tổ chức hoạt động của người học để tiếp nhận khái niệm, hiểu mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, hình thành quan điểm và vận dụng vào tình huống cụ thể. Tri thức nền vẫn là điều kiện bắt buộc: không nắm đúng khái niệm về nhà nước, dân chủ, quyền con người, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hay lịch sử Đảng thì không thể đánh giá xác đáng các nhận định liên quan. Tuy nhiên, hiểu và ghi nhớ không tự động chuyển thành khả năng phân tích một bài đăng mạng xã hội, một biểu đồ bị cắt ngữ cảnh hoặc một kết luận suy diễn từ sự việc đơn lẻ.
Theo cách tiếp cận năng lực, kết quả của học phần cần được nhận diện ở ít nhất bốn biểu hiện: trình bày chính xác luận điểm và phạm vi áp dụng; tìm được nguồn gốc và độ tin cậy của thông tin; phân biệt dữ kiện, nhận định, suy luận và thủ pháp ngụy biện; đưa ra phản hồi có lý lẽ, phù hợp pháp luật và chuẩn mực đối thoại. Đây là sự chuyển hóa mục tiêu bảo vệ nền tảng tư tưởng thành yêu cầu học tập cụ thể. Lập luận phản bác có giá trị khi người học chỉ ra được luận điểm nào sai, sai ở tiền đề, ở nguồn dẫn, ở cách khái quát hay ở kết luận, rồi trình bày căn cứ đúng.
- Phân biệt các chương trình đào tạo và mức độ vận dụng
Ở trình độ đại học, Quyết định số 4890/QĐ-BGDĐT ngày 23/12/2019 phê duyệt chương trình, giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị đối với đào tạo các ngành không chuyên về lý luận chính trị; Công văn số 3506/BGDĐT-GDĐH ngày 19/7/2019 hướng dẫn việc thực hiện chương trình, giáo trình [5]. Các học phần có đối tượng tri thức và chuẩn đầu ra riêng; tình huống vận dụng phải bám sát nội dung học phần, chẳng hạn phân tích quan hệ lý luận – thực tiễn trong Triết học Mác – Lênin, hoặc kiểm tra một nhận định lịch sử bằng tài liệu nguồn trong Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ở trình độ cao đẳng thuộc giáo dục nghề nghiệp, Thông tư số 24/2018/TT-BLĐTBXH ngày 06/12/2018 ban hành chương trình môn Giáo dục chính trị thuộc khối môn học chung [6]. Đặc điểm định hướng nghề nghiệp đòi hỏi tình huống dạy học gần với công việc, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công dân. Sự phân biệt này có ý nghĩa thực hành: không áp nguyên xi dung lượng, thuật ngữ chuyên sâu và yêu cầu nghiên cứu độc lập của học phần đại học vào mọi lớp cao đẳng; cũng không giản lược đào tạo đại học thành tuyên truyền các khẩu hiệu.
- Bảo vệ nền tảng tư tưởng gắn với đối thoại khoa học
Trong lớp học, cần phân biệt câu hỏi học thuật, phản ánh về hạn chế thực tiễn, thông tin sai do thiếu hiểu biết và sự xuyên tạc có chủ đích. Việc xác định động cơ của một cá nhân đòi hỏi căn cứ thích hợp, không thể suy đoán chỉ từ một câu hỏi. Giảng viên có thể phản bác nội dung thiếu căn cứ mà vẫn tôn trọng người nêu vấn đề. Đối với thông tin mô tả bất cập có thật, cần thừa nhận dữ kiện được kiểm chứng, đặt chúng vào bối cảnh, phân tích nguyên nhân và chính sách khắc phục; việc phủ nhận sạch trơn dễ làm suy yếu sức thuyết phục. Đây là nguyên tắc phương pháp luận của giáo dục chính trị có trách nhiệm, đồng thời phù hợp yêu cầu rèn luyện bản lĩnh dựa trên hiểu biết.
2. Những vấn đề đặt ra trong tổ chức dạy học
Về cách truyền đạt, một số giờ học có nguy cơ đi theo trình tự giảng viên diễn giải toàn bộ giáo trình, người học ghi chép và tái hiện nội dung trong bài thi. Nhận định này là phân tích một dạng hạn chế phương pháp có thể xảy ra, không phải kết quả khảo sát đại diện cho các cơ sở đào tạo. Nếu hoạt động nhận thức chủ yếu dừng ở ghi nhớ, người học có thể trả lời định nghĩa nhưng lúng túng khi phải đánh giá một luận điểm có cấu trúc tinh vi. Đổi mới vì thế cần bắt đầu từ nhiệm vụ học tập, câu hỏi và chứng cứ, chứ không chỉ thay bảng phấn bằng trình chiếu.
Về liên hệ thực tiễn, thông tin trên mạng thường được đưa vào bài giảng vì tính thời sự nhưng không được chỉ rõ tác giả, thời điểm, nguồn gốc và điều kiện so sánh. Một hình ảnh bị cắt, một con số thiếu mẫu số hoặc phát biểu tách khỏi văn cảnh đều có thể làm sai lệch phần thảo luận. Việc dùng ví dụ không kiểm chứng để phản bác thông tin sai vô tình tái tạo chính lỗi lập luận mà người học cần tránh. Học liệu thực tiễn cần có hồ sơ nguồn và được cập nhật theo từng học kỳ.
Về sự tham gia của người học, lớp đông, chênh lệch trình độ, áp lực hoàn thành chương trình và sự dè dặt đối với vấn đề nhạy cảm có thể hạn chế đối thoại. Bên cạnh đó, cách chấm điểm chỉ dựa vào trắc nghiệm ghi nhớ sẽ gửi tín hiệu rằng khả năng tìm tài liệu, phân tích và viết lập luận không quan trọng. Trong môi trường có công cụ trí tuệ nhân tạo tạo văn bản rất nhanh, bài tập về nhà chỉ yêu cầu “trình bày quan điểm” càng khó phản ánh công sức thực của sinh viên nếu không kiểm tra nguồn và quá trình làm bài.
Các giới hạn nêu trên không đồng nghĩa phủ nhận thành quả giáo dục lý luận chính trị. Chúng đặt ra một câu hỏi cụ thể cho từng nhà trường: sau học phần, sinh viên có thể tự mình kiểm tra và phản hồi một nhận định sai bằng lý lẽ và nguồn tin đáng tin cậy đến mức nào? Câu hỏi ấy cần được đưa vào thiết kế bài giảng và đánh giá đầu ra.
3. Định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy
Thứ nhất, thiết kế bài học theo vấn đề và theo chuỗi thao tác nhận thức
Giảng viên nên chọn một vấn đề phù hợp với từng học phần, có nội dung lý luận rõ, dữ liệu kiểm tra được và khả năng gắn với ngành học. Một bài học có thể đi qua bốn thao tác: (1) xác lập khái niệm, luận điểm cốt lõi từ giáo trình và văn kiện; (2) cung cấp bộ tư liệu gồm nguồn gốc rõ ràng và một nhận định cần kiểm tra; (3) tổ chức sinh viên đối chiếu bằng chứng, lập luận và chất vấn; (4) yêu cầu viết hoặc trình bày kết luận, nêu điều kiện để kết luận có giá trị. Giảng viên giữ vai trò hướng dẫn phương pháp, bổ sung tri thức nền và chỉnh sửa sai sót học thuật.
Thứ hai, dạy người học kiểm chứng nguồn tin và lập luận phản bác
Một quy trình kiểm chứng ngắn nên trở thành thói quen xuyên suốt học phần: truy tìm tài liệu gốc; xác định thời điểm và người công bố; đối chiếu ít nhất một nguồn độc lập phù hợp; xem cách trích dẫn có làm thay đổi nghĩa của văn bản không; phân biệt dữ kiện được xác lập với đánh giá và suy đoán. Với biểu đồ hoặc số liệu, cần hỏi nguồn dữ liệu, cách đo, kỳ so sánh và mẫu số. Với hình ảnh, video hay văn bản do trí tuệ nhân tạo tạo ra, cần nhận diện nguy cơ giả mạo và tránh coi vẻ chân thực là chứng cứ.
Bài tập phản biện nên yêu cầu sinh viên trình bày lập luận của bên được phản hồi một cách công bằng trước khi chỉ ra chỗ sai. Dàn ý có thể gồm: mệnh đề đang xét; phần đúng hoặc dữ kiện cần thừa nhận; sai lệch trong dẫn nguồn hoặc suy luận; bằng chứng đối chiếu; kết luận có giới hạn. Cách làm này giúp bảo vệ quan điểm trên cơ sở thuyết phục, tránh công kích cá nhân, nhầm lẫn ý kiến phê bình có căn cứ với quan điểm thù địch. Khi thảo luận về vấn đề đang có tranh luận, giảng viên xác định ranh giới giữa phần kiến thức đã được xác lập và phần cần tiếp tục nghiên cứu.
Thứ ba, đa dạng hóa phương pháp, gắn lý luận với ngành nghề
Có thể kết hợp lớp học đảo chiều, thảo luận nhóm nhỏ, phân tích tình huống, đọc có hướng dẫn một đoạn văn kiện, tranh biện có điều phối và dự án học tập ngắn. Trước buổi học, sinh viên đọc nội dung nền và trả lời một câu hỏi kiểm tra; trong lớp, giảng viên dành thời gian xử lý điểm khó và tình huống; sau lớp, sinh viên chỉnh sửa bản lập luận theo phản hồi. Số hóa học liệu giúp truy cập thuận tiện, nhưng lựa chọn nguồn, cấu trúc câu hỏi và phản hồi của giảng viên mới quyết định chất lượng học tập.
Mối liên hệ với chuyên ngành cần thể hiện ở vấn đề cụ thể. Sinh viên luật có thể đánh giá một lập luận về quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân và trách nhiệm của Nhà nước từ Hiến pháp và văn bản pháp luật; sinh viên công nghệ thông tin có thể phân tích điều kiện tạo và phát tán nội dung giả; sinh viên kinh tế có thể nhận diện việc sử dụng sai chỉ số khi bàn về thành tựu và hạn chế phát triển; sinh viên sư phạm có thể thiết kế cách giải thích một vấn đề công dân cho học sinh. Nhiệm vụ cần bám chuẩn đầu ra của học phần và năng lực nghề nghiệp, tránh thêm nội dung thời sự không liên quan.
Thứ tư, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo năng lực
Bài kiểm tra nên kết hợp phần kiến thức nền với nhiệm vụ xử lý tài liệu mới. Chẳng hạn, giảng viên cung cấp một đoạn lập luận, một trích đoạn tài liệu gốc và một nguồn dữ liệu, yêu cầu người học xác định luận điểm, kiểm tra dẫn chứng và viết đoạn phản hồi ngắn. Rubric có thể phân bổ điểm cho bốn tiêu chí: chính xác về lý luận và văn bản; chất lượng, tính minh bạch của nguồn; logic lập luận và khả năng xem xét ý kiến khác; cách trình bày và chuẩn mực đối thoại. Tỷ trọng cụ thể do từng cơ sở đào tạo xác định theo đề cương học phần, không nên ấn định một mẫu chung cho mọi trình độ.
Để hạn chế việc nộp sản phẩm do công cụ tạo tự động, có thể yêu cầu nộp bản ghi nguồn, bản nháp có chỉnh sửa và giải trình miệng ngắn đối với một số bài được chọn. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo như công cụ tìm gợi ý phải được khai báo theo quy định của nhà trường; mọi khẳng định quan trọng cần đối chiếu tài liệu gốc. Điểm đánh giá cần phản ánh chất lượng lập luận của người học, không chỉ mức độ trùng khớp với một đáp án mẫu.
4. Một số đề xuất, kiến nghị
Một là, các nhà trường cần tổ chức bồi dưỡng giảng viên đồng thời về kiến thức lý luận, phương pháp dạy học và kỹ năng kiểm chứng thông tin số. Sinh hoạt chuyên môn nên phân tích bài giảng cụ thể, thẩm định bộ tình huống, xây dựng câu hỏi tốt và rà soát những ví dụ không còn phù hợp. Cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, dự giờ đồng nghiệp và chia sẻ học liệu có thể giúp giảm gánh nặng chuẩn bị cho từng giảng viên. Với chủ đề liên ngành, mời giảng viên chuyên môn cùng góp ý tình huống là cách kiểm soát tính chính xác.
Hai là, cần xây dựng kho học liệu có quản lý phiên bản: văn kiện và giáo trình chính thức; nguồn pháp luật, số liệu và báo cáo có đường dẫn; các tình huống đã thẩm định; hướng dẫn đọc và kiểm chứng. Mỗi tình huống nên có thời điểm cập nhật, mục tiêu học tập, nguồn chứng cứ và lưu ý về giới hạn diễn giải. Kho học liệu không thay thế giáo trình, mà hỗ trợ người học liên hệ tri thức nền với vấn đề mới. Việc lựa chọn nguồn phải chú ý bản quyền, dữ liệu cá nhân và quy định của nhà trường.
Ba là, đánh giá hiệu quả đổi mới theo bằng chứng. Nhà trường có thể so sánh bài làm đầu kỳ và cuối kỳ bằng cùng một rubric, theo dõi tỷ lệ sinh viên nêu đúng nguồn gốc tài liệu, quan sát chất lượng phản biện trong lớp và lấy phản hồi của người học về độ rõ của lý luận. Các chỉ báo này đo sự tiến bộ trong phạm vi học phần; không nên suy rộng trực tiếp thành mức độ thay đổi tư tưởng của toàn bộ sinh viên hay hiệu quả chung của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng. Nếu nghiên cứu tác động, cần có thiết kế thu thập dữ liệu, bảo đảm tự nguyện và phương pháp phân tích thích hợp.
Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị trong các trường cao đẳng, đại học có thể góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng khi chuyển kiến thức lý luận thành khả năng nhận diện vấn đề, kiểm chứng thông tin và đối thoại bằng chứng cứ. Trọng tâm của đổi mới là thiết kế nhiệm vụ nhận thức, hướng dẫn người học lập luận và đánh giá được năng lực vận dụng; công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ. Việc triển khai cần bám chương trình của từng trình độ, bảo đảm chuẩn mực học thuật và tôn trọng câu hỏi có căn cứ của sinh viên. Từ đó, hoạt động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có thể được thực hiện bằng tri thức vững, lý lẽ rõ và thái độ có trách nhiệm.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
[2] Ban Bí thư (2018), Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Tư liệu – Văn kiện Đảng.
[3] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tư liệu – Văn kiện Đảng.
[4] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới. Tư liệu – Văn kiện Đảng.
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Quyết định số 4890/QĐ-BGDĐT ngày 23/12/2019 về phê duyệt chương trình, giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị đối với đào tạo trình độ đại học các ngành không chuyên về lý luận chính trị; Công văn số 3506/BGDĐT-GDĐH ngày 19/7/2019 về hướng dẫn thực hiện chương trình, giáo trình các môn lý luận chính trị.
[6] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2018), Thông tư số 24/2018/TT-BLĐTBXH ngày 06/12/2018 ban hành chương trình môn học Giáo dục chính trị thuộc khối môn học chung trong chương trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Công báo điện tử.
Thượng tá Hoàng Văn Hiệu
Khoa Luật, Học viện CSND