1. Khi cái thật trở thành “vỏ bọc” cho thông tin sai lệch
Ngày 24/3/2025, L.X.T. thấy trên mạng Facebook có một số trang, nhóm đăng hình ảnh cán bộ Cảnh sát giao thông với dòng chữ có nội dung “Dừng xe ở làn khẩn cấp trên cao tốc đi vệ sinh: Không phải tình huống bất khả kháng, CSGT vẫn phạt nguội”. Qua phối hợp xác minh với Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, cơ quan chức năng khẳng định đây là nội dung cắt ghép, bịa đặt về phát ngôn của lực lượng Công an. Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Công an tỉnh Thái Nguyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L.X.T. về hành vi “Chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân”, vi phạm điểm a, khoản 1, Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, Tần số vô tuyến điện, Công nghệ thông tin và Giao dịch điện tử, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 7.500.000 đồng.
Điều đáng suy nghĩ không chỉ nằm ở một thông tin giả, thông tin sai đã xuất hiện. Một bức ảnh thật chưa chắc kể một câu chuyện thật; một đoạn video thật chưa chắc phản ánh đầy đủ một sự việc; một câu nói có thật cũng chưa thể được hiểu đúng nếu phần trước, phần sau và hoàn cảnh xuất hiện của nó đã bị loại bỏ.
Chúng ta thường đặt câu hỏi: “Thông tin này thật hay giả?”. Câu hỏi ấy cần thiết nhưng chưa đủ. Bởi giữa hai đầu “thật” và “giả” còn có những thông tin chứa dữ kiện xác thực nhưng bị cắt xén, lựa chọn một chiều, đặt sai bối cảnh hoặc sắp xếp lại theo cách khiến người tiếp nhận hiểu sai bản chất sự việc. Hiện tượng này thường được đề cập dưới tên gọi “một nửa sự thật”. Nghị định số 328/2026/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2026 của Chính phủ quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật sẽ có hiệu lực từ ngày 05 tháng 10 năm 2026 đã giải thích từ ngữ “Tin giả, tin sai sự thật là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức gồm các loại thông tin: Thông tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin giả mạo, thông tin bịa đặt, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc”.
Từ định nghĩa trên chúng ta thấy rằng cần đặt ra một yêu cầu rộng hơn: Phòng, chống tin giả, tin sai sự thật không thể chỉ tập trung tìm xem chi tiết nào đã bị làm giả, mà còn phải xác định thông tin có phản ánh đúng mối quan hệ giữa các dữ kiện, đúng phạm vi và đúng bản chất của sự việc hay không. Một số liệu có thể đúng, một hiện tượng có thể có thật, một hạn chế có thể cần được thẳng thắn nhìn nhận, nhưng kết luận được dựng lên từ những dữ kiện ấy vẫn có thể sai nếu chúng bị tách khỏi phạm vi và bối cảnh vốn có.
Không phải mọi sự bóp méo thông tin đều bắt đầu bằng việc thêm vào tin giả. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần bớt đi một phần cái thật: Bỏ phần trước hoặc sau của một phát ngôn, bỏ mốc thời gian khi so sánh số liệu, tách một quyết định khỏi hoàn cảnh ra đời, hoặc chỉ lựa chọn những biểu hiện tiêu cực khi đánh giá cả một quá trình. Người đọc khi đó vẫn tiếp nhận những dữ kiện có thật nhưng có thể bị dẫn tới một nhận thức không đầy đủ, thậm chí sai lệch về bản chất sự việc.
Điều này đặc biệt đáng lưu ý đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Những hạn chế, sai phạm hay vấn đề phức tạp có thật trong đời sống xã hội, nếu bị tách khỏi bối cảnh, lựa chọn một chiều hoặc khái quát hóa có chủ đích, có thể bị lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, đường lối, phủ nhận thành tựu, quy kết bản chất của tổ chức và đội ngũ cán bộ, từ đó tác động đến nhận thức và niềm tin xã hội. Nhận diện sự thật bị bóp méo, vì thế, không chỉ là vấn đề của kỹ năng tiếp nhận thông tin mà còn là yêu cầu đặt ra đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường.
2. Khi những mảnh ghép đúng tạo nên một bức tranh sai
Không gian số làm vấn đề trở nên phức tạp hơn bởi cách con người tiếp nhận thông tin đã thay đổi. Người sử dụng mạng hiếm khi bắt đầu tìm hiểu một sự kiện bằng việc đọc toàn bộ hồ sơ, văn bản hay một bài phân tích dài. Cái xuất hiện trước mắt thường là tiêu đề, bức ảnh, câu trích dẫn hoặc đoạn video vài chục giây. Một vấn đề phức tạp có thể bị thu nhỏ thành một câu nói; một quá trình kéo dài nhiều năm có thể bị đánh giá qua một sự việc; một chính sách với nhiều mục tiêu, điều kiện và đối tượng tác động có thể bị nhìn nhận chỉ qua một trường hợp cá biệt. Vấn đề nằm ở chỗ, tính xác thực của từng mảnh ghép không tự động bảo đảm tính xác thực của bức tranh được tạo nên từ chúng. Nếu các dữ kiện đều đúng nhưng nếu chỉ các dữ kiện ấy được lựa chọn trong số các dữ kiện khác, hoặc được sắp xếp theo một trật tự nhằm hướng người đọc tới kết luận định trước, bức tranh cuối cùng vẫn có thể sai lệch. Sự bóp méo lúc này không nhất thiết diễn ra ở cấp độ dữ kiện mà diễn ra ở mối quan hệ giữa các dữ kiện.
Đây là điểm cần được nhận diện rõ hơn. Kiểm chứng truyền thống thường tập trung vào câu hỏi, ví dụ như: Một bức ảnh có bị chỉnh sửa hay không, một phát ngôn có thực sự được nói hay không, một con số có chính xác hay không. Nhưng nếu từng thành phần đều xác thực mà mối quan hệ giữa chúng bị sắp đặt sai thì kiểm chứng từng thành phần riêng lẻ vẫn chưa đủ để khôi phục sự thật.
Bài viết của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm nhan đề "Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số" đã chỉ rõ: “Môi trường mạng cũng khiến đời sống thông tin phức tạp hơn, dễ bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời, tin sai lệch, thao túng thuật toán và những hoạt động tán phát thông tin có chủ đích. Tin giả, tin nửa đúng nửa sai, mập mờ, hình ảnh và âm thanh giả mạo, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, xâm phạm bản quyền, tấn công mạng và đánh cắp dữ liệu diễn ra ngày càng tinh vi. Thông tin sai có thể lan xa trước khi sự thật kịp được kiểm chứng. Tình trạng phát ngôn bị cắt ghép có thể làm tổn hại uy tín cá nhân, tổ chức, thậm chí ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước”.
Nguy cơ vì thế không chỉ nằm ở việc một người hiểu sai một sự kiện. Khi những lát cắt cùng chiều được lặp đi lặp lại, chúng có thể dần tạo thành khuôn mẫu nhận thức: Từ sai phạm của một cá nhân suy rộng thành đặc điểm của cả tổ chức; từ khó khăn ở một thời điểm đi đến phủ nhận một quá trình; từ một hạn chế có thật hình thành những kết luận vượt xa phạm vi mà dữ kiện ban đầu có thể chứng minh. Nếu quá trình ấy kéo dài, tác động không nhất thiết phải biểu hiện bằng việc công chúng tin ngay vào một lời nói dối cụ thể, mà có thể là sự suy giảm dần khả năng xác định đâu là nguồn thông tin đáng tin cậy.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo dẫn tới việc cắt ghép phát ngôn, lựa chọn dữ kiện hay đánh tráo bối cảnh, công nghệ có thể làm giảm đáng kể thời gian và chi phí tạo lập nội dung. Một văn bản có thể được viết lại thành nhiều phiên bản; hình ảnh có thể được chỉnh sửa; giọng nói có thể được mô phỏng; video có thể được tạo dựng hoặc biến đổi với mức độ ngày càng khó nhận biết bằng quan sát thông thường. Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung vào ảnh giả, giọng nói giả hay video giả thì vẫn chưa bao quát hết vấn đề. Trí tuệ nhân tạo không nhất thiết phải tạo ra toàn bộ một câu chuyện không có thật. Một hình ảnh xác thực vẫn có thể được đặt vào sự kiện khác; một đoạn video thật vẫn có thể bị cắt khỏi phần trước và phần sau; một văn bản chính thức có thể được tóm tắt theo hướng chỉ giữ lại những chi tiết phục vụ một cách diễn giải nhất định.
Bởi vậy, thách thức không chỉ là xác thực vật mang thông tin mà còn phải xác thực mối quan hệ và ý nghĩa của thông tin trong bối cảnh đầy đủ của nó. Một tệp ảnh có thể nguyên bản nhưng lời chú thích lại sai; một video không qua chỉnh sửa nhưng cách trích đoạn có thể làm thay đổi ý nghĩa; một con số hoàn toàn chính xác nhưng phép so sánh được xây dựng từ nó có thể thiếu căn cứ. Từ đây, vấn đề đặt ra không chỉ là bảo vệ sự thật ở cấp độ từng dữ kiện, mà còn phải bảo vệ tính toàn vẹn của sự thật.
3. Năm điểm tựa để kiểm chứng tính toàn vẹn của thông tin
Nghị định số 328/2026/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2026 của Chính phủ quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật sẽ có hiệu lực từ ngày 05 tháng 10 năm 2026 quy định quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật như sau: Phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật; Kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật; Gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật: Sau khi kết luận thông tin là tin giả, tin sai sự thật, đơn vị trực tiếp kiểm chứng gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật; Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật: Cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật công bố, cảnh báo thông tin phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin; Ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật; Áp dụng các hình thức xử lý.
Trước một nội dung gây tranh luận, nhất là thông tin liên quan đến chủ trương, chính sách, cán bộ, cơ quan nhà nước hoặc các vấn đề chính trị - xã hội, việc kiểm chứng có thể bắt đầu từ năm điểm tựa: Nguồn, chủ thể, thời điểm, bối cảnh và tính toàn vẹn. Năm yếu tố này không thay thế các quy trình nghiệp vụ kiểm chứng chuyên sâu, mà giúp người tiếp nhận có một cách tiếp cận đơn giản để không vội vàng kết luận từ những mẩu thông tin rời rạc.
Trước hết là nguồn. Thông tin xuất hiện đầu tiên ở đâu, có thể truy trở lại văn bản, hình ảnh, video hoặc phát ngôn gốc hay không? Một ảnh chụp màn hình được chia sẻ qua nhiều tài khoản không thể có giá trị như tài liệu từ nguồn ban đầu. Tiếp đến là chủ thể: Ai thực sự nói, viết hoặc công bố nội dung đó; một ý kiến cá nhân có bị gán thành quan điểm của cơ quan, tổ chức; hình ảnh có đúng là của người hoặc sự kiện đang được đề cập hay không?
Thời điểm cũng là yếu tố dễ bị bỏ qua. Một hình ảnh cũ có thể được đưa trở lại để mô tả một sự việc mới; một quy định đã hết hiệu lực có thể được trình bày như chính sách hiện hành; số liệu của hai giai đoạn khác nhau có thể bị đặt cạnh nhau mà không giải thích sự khác biệt về phạm vi và phương pháp thống kê. Chỉ cần thay đổi thời điểm hoặc hệ quy chiếu, một dữ kiện vốn đúng đã có thể tạo ra cách hiểu khác.
Hai yếu tố cuối cùng là bối cảnh và tính toàn vẹn. Một đoạn video cần được xem cùng những gì diễn ra trước và sau; một phát ngôn phải được đặt trong vấn đề mà người nói đang trả lời; một số liệu phải gắn với phạm vi, đối tượng và điều kiện của nó. Sau đó cần đặt thêm câu hỏi: Có phần thông tin quan trọng nào đã bị loại bỏ hay không và, nếu khôi phục phần bị thiếu, ý nghĩa của sự việc có thay đổi không?
Trong năm yếu tố trên, tính toàn vẹn là bước kiểm tra cuối cùng nhưng có ý nghĩa bao quát. Nguồn có thể đúng, chủ thể có thể đúng, thời điểm cũng có thể đúng, nhưng nếu chỉ một phần thông tin được lựa chọn để đại diện cho toàn bộ sự việc thì nguy cơ sai lệch vẫn còn. Kiểm chứng tính toàn vẹn vì thế không chỉ là xác nhận “dữ kiện này có thật hay không”, mà còn phải xem dữ kiện ấy đang được sử dụng như thế nào và kết luận được rút ra có vượt quá điều mà dữ kiện có thể chứng minh hay không.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa kiểm tra một thông tin và khôi phục một sự thật. Kiểm tra thông tin nhằm xác định một dữ kiện đúng hay sai; khôi phục sự thật đòi hỏi đặt dữ kiện đó trở lại đúng nguồn, đúng chủ thể, đúng thời điểm, đúng bối cảnh và đúng mối quan hệ với những dữ kiện còn lại. Trong môi trường thông tin ngày càng phân mảnh, năng lực thứ hai sẽ ngày càng quan trọng.
4. Từ phản bác thông tin sai đến bảo vệ tính toàn vẹn của sự thật
Chúng ta thấy rằng, việc nhận diện tốt hơn mới chỉ giải quyết một phần vấn đề. Nếu thông tin chính xác luôn xuất hiện sau khi nội dung sai lệch đã lan rộng thì công tác bảo vệ sự thật sẽ thường xuyên ở thế chạy theo. Vì vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian số cần tăng cường tính chủ động: Phản bác kịp thời phải đi cùng cung cấp thông tin sớm; chỉ ra cái sai phải đi cùng làm rõ cái đúng; xử lý thông tin giả phải gắn với thu hẹp những khoảng trống thông tin có thể tạo điều kiện cho suy đoán và diễn giải sai lệch.
Khi một vấn đề được xã hội quan tâm, cơ quan có trách nhiệm cần chủ động cung cấp những thông tin có thể công khai, giải thích rõ căn cứ và bối cảnh của chính sách, nhận diện những nội dung dễ bị hiểu sai và nhanh chóng xác minh khi xuất hiện thông tin bất thường. Điều này đặc biệt quan trọng trong những tình huống mà một sự việc có thật đang bị diễn giải theo nhiều hướng khác nhau. Khoảng trống thông tin càng kéo dài, khả năng các lát cắt rời rạc bị sử dụng để dựng lên một câu chuyện khác càng lớn.
Báo chí chính thống vì thế không nên chỉ dừng ở việc khẳng định một nội dung là sai. Công chúng cần biết sự thật đầy đủ là gì. Nếu video bị cắt ghép thì nội dung đầy đủ ra sao; nếu câu nói bị tách khỏi bối cảnh thì người phát ngôn thực sự đang nói về vấn đề gì; nếu một con số bị sử dụng sai thì cơ sở so sánh chính xác như thế nào; nếu một hiện tượng bị khái quát hóa thì phạm vi thực tế của nó đến đâu. Khôi phục phần sự thật bị che khuất và đặt các dữ kiện trở lại đúng quan hệ của chúng chính là cách trực tiếp để làm mất đi sức thuyết phục của thông tin bị bóp méo. Đối với vấn đề càng phức tạp càng cần chứng cứ; càng là vấn đề đang gây tranh luận càng cần thông tin đầy đủ; càng là nội dung tác động đến niềm tin xã hội càng cần tránh những nhận định chung chung. Trách nhiệm ấy không chỉ thuộc về cơ quan quản lý và báo chí. Trong trật tự truyền thông mới, ranh giới giữa người sản xuất và người tiếp nhận thông tin ngày càng mờ; một người đọc có thể trở thành người phát tán chỉ bằng thao tác chia sẻ. Trách nhiệm với sự thật vì thế đôi khi bắt đầu từ những việc rất đơn giản: Kiểm tra nguồn, tìm nội dung gốc, xem thời điểm xuất bản, đọc phần trước và sau, đối chiếu với thông tin chính thức trước khi chia sẻ. Việc không đăng tải, chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng mới chỉ là mức tối thiểu. |Vấn đề quan trọng hơn là khả năng nhận ra thủ pháp cắt xén, đánh tráo bối cảnh; biết tìm về nguồn ban đầu; chủ động cung cấp và lan tỏa thông tin có căn cứ; giải thích những vấn đề thuộc phạm vi hiểu biết và trách nhiệm của mình một cách chuẩn xác, thuyết phục. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, biết sử dụng công nghệ là cần thiết, nhưng không để công nghệ và dòng chảy thông tin dẫn dắt nhận thức một cách thụ động cũng quan trọng không kém. Nhìn rộng hơn, sự thay đổi của môi trường thông tin đang đặt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trước một yêu cầu mới. Nếu trước đây việc đấu tranh thường tập trung vào những thông tin bịa đặt, xuyên tạc có thể nhận diện tương đối rõ, thì ngày nay ranh giới giữa đúng và sai trở nên phức tạp hơn. Cái sai có thể được tạo nên từ những dữ kiện đúng; thông tin xuyên tạc có thể khoác lên mình hình thức của một tài liệu thật, một hình ảnh thật, một phát ngôn thật hay một con số hoàn toàn chính xác. Khi đó, chỉ chứng minh từng dữ kiện là có thật hay giả chưa đủ; điều cần được làm rõ còn là các dữ kiện ấy đã được lựa chọn như thế nào, đặt trong quan hệ nào và đang dẫn người tiếp nhận tới cách hiểu nào về bản chất sự việc.
Chính từ đó, bảo vệ sự thật trên không gian số cần được nhìn nhận đầy đủ hơn. Đó không chỉ là phát hiện cái giả mà còn phải bảo vệ tính toàn vẹn của cái thật; không chỉ phản bác nội dung sai mà còn phải khôi phục những dữ kiện đã bị lược bỏ, trả sự kiện về đúng bối cảnh và đưa thông tin trở lại đúng phạm vi mà nó có giá trị. Một bức ảnh phải được đặt đúng sự kiện; một phát ngôn phải được đặt đúng hoàn cảnh; một con số phải được đặt đúng hệ quy chiếu; một sai phạm phải được xác định đúng chủ thể và phạm vi trách nhiệm. Chỉ khi đó, những mảnh ghép riêng lẻ mới có thể tạo nên một bức tranh phản ánh đúng hiện thực.
Yêu cầu ấy cũng đặt ra sự thay đổi trong phương thức đấu tranh trên không gian số. Phản bác nhanh vẫn cần thiết, nhưng không thể là phương thức duy nhất. Khi một vấn đề phức tạp xuất hiện, thông tin chính thống cần có mặt đủ sớm, cung cấp đủ dữ kiện và giải thích đủ rõ để công chúng có cơ sở tự mình nhận biết và đánh giá. Sức thuyết phục của thông tin chính thống không chỉ đến từ thẩm quyền của chủ thể phát ngôn mà trước hết phải đến từ sự chính xác, minh bạch, đầy đủ và khả năng kiểm chứng. Trong cuộc cạnh tranh về thông tin, sự thật không thể chỉ đúng; sự thật còn cần được đưa đến công chúng kịp thời và được trình bày theo cách giúp họ hiểu đúng.
Điều đó càng có ý nghĩa khi trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới đang làm cho việc tạo lập, chỉnh sửa và phát tán nội dung trở nên dễ dàng hơn. Công nghệ có thể hỗ trợ phát hiện nội dung giả mạo, truy tìm nguồn gốc và kiểm chứng dữ liệu, nhưng không thể thay thế hoàn toàn năng lực phán đoán của con người. Trước một thông tin đang lan truyền, năm câu hỏi về nguồn, chủ thể, thời điểm, bối cảnh và tính toàn vẹn không chỉ là thao tác kiểm chứng mà cần dần trở thành một thói quen tiếp nhận thông tin. Khi mỗi cán bộ, đảng viên và người dân biết dừng lại trước một nội dung gây kích động, tìm về nguồn ban đầu, kiểm tra phần thông tin bị bỏ lại phía sau và đặt dữ kiện vào đúng bối cảnh, không gian cho những thủ pháp dẫn dắt nhận thức sẽ bị thu hẹp.
Cuộc đấu tranh với thông tin sai lệch là cuộc đấu tranh để bảo vệ niềm tin trên cơ sở sự thật. Niềm tin bền vững không thể được tạo nên bằng cách né tránh những vấn đề còn tồn tại, cũng không thể được bảo vệ chỉ bằng những lời khẳng định một chiều. Niềm tin được củng cố khi những thành tựu được phản ánh đúng, những hạn chế được nhìn nhận thẳng thắn, những sai phạm được xử lý nghiêm minh và những vấn đề xã hội quan tâm được giải đáp bằng thông tin có căn cứ. Chính sự thống nhất giữa lời nói, dữ kiện và thực tiễn mới tạo nên sức thuyết phục lâu dài của thông tin chính thống.
Bởi vậy, trước sự vận động ngày càng phức tạp của không gian số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ là đấu tranh với những điều hoàn toàn bịa đặt mà còn cần nhận diện khi cái thật bị cắt xén, khi những dữ kiện đúng bị sắp đặt để tạo nên một kết luận sai, khi một phần hiện thực được sử dụng để thay thế cho toàn bộ hiện thực. Tin giả có thể bị bác bỏ khi tìm được dữ kiện xác thực; nhưng trước một “nửa sự thật”, điều cần làm là tìm lại phần sự thật đã bị che khuất và khôi phục tính toàn vẹn của sự thật.
Một bức ảnh cần được đặt trở lại đúng sự kiện, một phát ngôn cần được đặt trở lại đúng hoàn cảnh, một con số cần được đặt trở lại đúng hệ quy chiếu, một hạn chế cần được nhìn nhận trong toàn bộ quá trình. Bởi trong một thế giới mà cái giả ngày càng có thể giống thật, bảo vệ sự thật không chỉ là chứng minh điều gì đúng, mà còn là không để cái đúng bị cắt vụn, sắp đặt và sử dụng để kể một câu chuyện sai về chính nó. Giữ được tính toàn vẹn của sự thật cũng chính là giữ vững cơ sở để xã hội nhận thức đúng, để niềm tin được xây dựng trên những điều có thể kiểm chứng và để nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được bảo vệ bằng sức mạnh thuyết phục của chính thực tiễn.
Cao Hoàng Thắng - Hoàng Tùng
Khoa Toán - Tin học và Ứng dụng KHCN trong PCTP, Học viện CSND
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nghị định số 328/2026/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2026 của Chính phủ quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật
2. https://phapluatplus.baophapluat.vn/bi-phat-7-5-trieu-dong-vi-dang-tin-dung-xe-lan-khan-cap-tren-cao-toc-di-ve-sinh-van-bi-phat-nguoi-212543.html
3. https://tuyengiaodanvan.vn/vn/blogs/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-trong-boi-canh-moi-6855332fc698ab07f08412b0
4. https://vov.vn/chinh-tri/bai-viet-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-bao-chi-cach-mang-viet-nam-trong-thoi-dai-so-post1307511.vov