Chống diễn biến hòa bình
Thứ Ba, 15/9/2026 10:40'(GMT+7)

Nâng cao năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Tuy nhiên, trên không gian mạng, thật và giả, dữ kiện và suy đoán, phản biện và xuyên tạc thường đan xen. Một thông tin chưa được kiểm chứng vẫn có thể lan truyền rất nhanh khi chạm vào tâm lý tò mò, lo lắng hoặc bức xúc. Một cách diễn giải sai, nếu được lặp lại dày đặc, dễ tạo cảm giác đó là sự thật hoặc là quan điểm phổ biến. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh còn làm cho văn bản, hình ảnh, giọng nói và video giả ngày càng khó nhận biết bằng cảm quan thông thường.

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Cụ thể hóa yêu cầu đó trên lĩnh vực tư tưởng, Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới xác định chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm gốc, lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo. Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 03/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe Nhân dân”. Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phân biệt rõ băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt và không để thông tin giả mạo, độc hại, lệch chuẩn dẫn dắt xã hội.

Những định hướng đó đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Nếu chỉ lên tiếng khi thông tin xuyên tạc đã lan rộng thì công tác tư tưởng luôn bị đặt vào thế ứng phó. Muốn giữ thế chủ động phải đi trước bằng thông tin xác thực, lý lẽ có sức thuyết phục, thái độ cầu thị trước phản ánh có căn cứ và kết quả giải quyết những vấn đề Nhân dân quan tâm. Vì vậy, nâng cao năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội không phải là một yêu cầu thuần túy về truyền thông, mà là vấn đề trực tiếp liên quan đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và niềm tin của Nhân dân trong điều kiện mới.

1. Dẫn dắt nhận thức xã hội bằng sự thật, lý lẽ và hiệu quả thực tiễn

Nhận thức xã hội hình thành trong quá trình con người tiếp nhận, so sánh và lý giải các vấn đề của đời sống trên cơ sở lợi ích, kinh nghiệm, tâm lý và môi trường xã hội của mình. Cùng một sự việc, những người ở vị trí khác nhau, tiếp cận nguồn tin khác nhau có thể đưa ra những nhận định không giống nhau. Sự khác biệt ấy là hiện tượng khách quan của đời sống xã hội, không mặc nhiên đồng nghĩa với sai trái, lệch lạc hoặc chống đối.

Không gian mạng làm thay đổi sâu sắc quá trình hình thành nhận thức. Thông tin không còn chủ yếu vận động theo chiều từ cơ quan, tổ chức đến công chúng. Mỗi người sử dụng đồng thời có thể là người tiếp nhận, bình luận, sản xuất và tiếp tục phổ biến thông tin. Một sự việc vừa xuất hiện đã có thể được diễn giải theo nhiều hướng, trong khi dữ kiện, cảm xúc và suy đoán chưa được phân tách rõ ràng. Số lượt thích, bình luận hoặc chia sẻ phản ánh mức độ chú ý của một bộ phận người dùng, nhưng không đủ cơ sở để coi đó là ý kiến đại diện cho toàn xã hội. Đồng nhất mức độ tương tác với dư luận xã hội rất dễ dẫn tới nhận định sai và lựa chọn cách xử lý không phù hợp.

Trong bối cảnh đó, dẫn dắt nhận thức xã hội không phải là áp đặt một cách nghĩ có sẵn, càng không phải triệt tiêu tranh luận hoặc yêu cầu công chúng tiếp nhận thông tin một chiều. Về bản chất, đó là quá trình chủ động cung cấp dữ kiện đáng tin cậy, giải thích đúng bản chất vấn đề, khẳng định những giá trị tiến bộ và tạo điều kiện để người dân hình thành nhận thức có căn cứ. Dẫn dắt khác với thao túng ở chính mục đích, phương thức và nền tảng đạo lý: dẫn dắt tôn trọng sự thật, tôn trọng chủ thể tiếp nhận và hướng tới lợi ích chung; thao túng che giấu hoặc bóp méo sự thật để điều khiển nhận thức theo ý đồ riêng.

Năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội trước hết thể hiện ở khả năng phát hiện đúng vấn đề đang tác động đến tư tưởng, tâm lý xã hội; nhận ra nguyên nhân phía sau một luồng dư luận; xác định nhóm công chúng chịu ảnh hưởng và nhu cầu thông tin của họ. Trên cơ sở đó, chủ thể có trách nhiệm phải cung cấp thông tin kịp thời, giải thích rõ điều công chúng còn băn khoăn, tổ chức đối thoại, tiếp nhận phản hồi và phản bác có căn cứ đối với thông tin sai lệch. Theo Nghị quyết số 25-NQ/TW, đây là công việc của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị, trước hết thuộc về cấp ủy, người đứng đầu; không thể khoán trắng cho cơ quan tuyên giáo, báo chí hoặc lực lượng chuyên trách.

Điểm đến của dẫn dắt nhận thức xã hội là củng cố niềm tin, nhưng niềm tin không thể hình thành chỉ bằng việc lặp lại thông điệp. Khi một chủ trương được giải thích rõ, thông tin được cung cấp đúng lúc, phản ánh chính đáng được tiếp thu và vấn đề nảy sinh được xử lý, dư địa tác động của tin giả và luận điệu xuyên tạc sẽ bị thu hẹp. Ngược lại, sự chậm trễ, né tránh hoặc thiếu thống nhất trong thông tin chính thức sẽ tạo ra khoảng trống để suy đoán lấn át dữ kiện. Một khi cách hiểu sai đã trở thành ấn tượng ban đầu, việc đính chính về sau thường tốn nhiều công sức nhưng hiệu quả hạn chế.

Bởi vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn chặt “xây” với “chống”, lấy “xây” làm gốc. Yêu cầu này được xác lập trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị và tiếp tục phát triển trong Nghị quyết số 25-NQ/TW. “Xây” là bồi đắp nhận thức đúng, bản lĩnh chính trị, môi trường thông tin lành mạnh và sức đề kháng trước thông tin sai lệch; “chống” là nhận diện, vạch rõ và ngăn chặn cái sai, cái xấu, cái độc hại. Phản bác chỉ thật sự có sức thuyết phục khi vừa chỉ ra điều sai, vừa làm sáng rõ điều đúng; vừa bác bỏ lập luận xuyên tạc, vừa trả lời thấu đáo vấn đề thực tiễn mà công chúng đang quan tâm.

2. Những lực cản đối với năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội trên không gian mạng

Lực cản đầu tiên đến từ sự phân tán nguồn tin và cạnh tranh ảnh hưởng giữa các chủ thể truyền thông. Cơ quan nhà nước và báo chí cách mạng không còn giữ vị trí gần như duy nhất trong cung cấp và giải thích sự kiện. Trong cùng một thời điểm, công chúng có thể tiếp nhận thông tin từ báo chí, mạng xã hội, chuyên gia, người có ảnh hưởng, các nhóm cộng đồng và những tài khoản không xác định được danh tính. Uy tín của thông tin chính thức vì thế không chỉ được bảo đảm bằng thẩm quyền của cơ quan phát hành, mà phải được chứng minh bằng độ chính xác, tính kịp thời, sự minh bạch và khả năng trả lời đúng điều xã hội đang cần biết.

Cơ chế phân phối nội dung của các nền tảng số cũng tác động mạnh đến cách con người nhận biết và đánh giá sự việc. Nội dung gây bất ngờ, lo lắng, phẫn nộ hoặc tranh cãi thường thu hút tương tác cao và có khả năng được đề xuất rộng hơn. Khi người sử dụng liên tục tiếp xúc với những nội dung phù hợp với định kiến sẵn có, họ dễ rơi vào “vùng thông tin khép kín”, tưởng rằng cách nhìn của mình được số đông chia sẻ. Hệ quả không dừng ở nhận thức phiến diện, mà có thể làm suy giảm khả năng lắng nghe, khoét sâu khác biệt và đẩy những bất đồng thông thường thành phân cực xã hội.

Các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị triệt để khai thác đặc điểm này. Nội dung chống phá ngày càng ít xuất hiện dưới dạng những lời kêu gọi đối đầu trực diện. Phổ biến hơn là thủ đoạn dựa vào một hạn chế, sai phạm hoặc bức xúc có thật, sau đó cắt bỏ bối cảnh, lựa chọn dữ kiện có lợi và gắn với cách bình luận định hướng. Từ một vụ việc cụ thể, họ quy kết thành bản chất; từ khuyết điểm trong tổ chức thực hiện, họ phủ nhận chủ trương; từ sai phạm của một số cá nhân, họ xuyên tạc bản chất và vai trò lãnh đạo của Đảng. Sự pha trộn giữa dữ kiện có thật với kết luận sai làm cho loại thông tin này khó nhận diện và có sức mê hoặc hơn sự bịa đặt hoàn toàn.

Trí tuệ nhân tạo tiếp tục gia tăng mức độ phức tạp. Nội dung giả có thể được tạo ra nhanh, điều chỉnh theo tâm lý từng nhóm công chúng và phát tán đồng thời qua nhiều tài khoản. Nguy cơ không chỉ là công chúng tin vào sản phẩm giả. Khi giả mạo trở nên phổ biến, một bộ phận người dùng có thể nghi ngờ cả tài liệu xác thực hoặc viện lý do “do trí tuệ nhân tạo tạo ra” để bác bỏ bằng chứng bất lợi. Nếu xã hội mất dần chuẩn chung để xác định sự thật, nền tảng cho đối thoại và đồng thuận cũng bị suy yếu.

Lực cản còn xuất phát từ những hạn chế nội tại trong công tác nắm bắt, phân tích và xử lý thông tin. Ở một số nơi, việc theo dõi dư luận vẫn nặng về thống kê từ khóa, số lượt tương tác hoặc liệt kê nội dung nổi bật, chưa chỉ ra được vấn đề xã hội nằm phía sau. Biết một luồng dư luận đang gia tăng chưa có nghĩa là đã hiểu vì sao nó xuất hiện, ai đang quan tâm, nhu cầu chính đáng nào chưa được đáp ứng và nguy cơ bị lợi dụng nằm ở đâu. Thiếu phân tích chiều sâu dễ dẫn tới hai thái cực: hoặc phản ứng quá mức trước ý kiến bình thường, hoặc đánh giá thấp hoạt động xuyên tạc có tổ chức.

Việc phân loại thông tin ở một số trường hợp chưa thật sự chính xác. Ý kiến khác biệt, phản biện có căn cứ hoặc thông tin sai do thiếu dữ kiện đôi khi bị nhìn nhận theo hướng tiêu cực, dẫn đến phản ứng vội vàng, làm giảm khả năng đối thoại và vô tình đẩy người có băn khoăn chính đáng ra xa nguồn thông tin chính thống. Ở chiều ngược lại, nếu chậm nhận diện hoạt động cắt ghép, giả mạo, phối hợp tài khoản và khuếch đại có chủ đích, thông tin xuyên tạc có thể lan rộng trước khi được làm rõ. Không quy chụp không có nghĩa là buông lỏng cảnh giác; kiên quyết đấu tranh cũng không cho phép thay thế kiểm chứng bằng suy đoán.

Một hạn chế khác là thông tin chính thức trong một số vụ việc còn chậm, thiếu nhất quán hoặc chưa đi thẳng vào điều người dân muốn biết. Có nội dung đúng nhưng cách trình bày nặng tính hành chính, dài, khó hiểu và không phù hợp với thói quen tiếp nhận trên nền tảng số. Trong khi đó, thông tin sai lệch thường ngắn, trực quan, đánh mạnh vào cảm xúc. Nếu tiếng nói chính thức chỉ xuất hiện sau khi cách diễn giải sai đã lan rộng, dù nội dung đính chính chính xác, khả năng tác động vẫn bị giảm đáng kể.

Những hạn chế trên cho thấy không thể đo hiệu quả dẫn dắt nhận thức xã hội bằng số lượng tin, bài đã đăng, lượt tương tác đạt được hoặc số nội dung vi phạm đã xử lý. Điều cần đo là khả năng phát hiện sớm, giải thích đúng, phản hồi nhanh; mức độ công chúng hiểu rõ hơn bản chất vấn đề; khả năng giải đáp băn khoăn và củng cố niềm tin. Đây cũng là yêu cầu được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị ngày 03/9/2026: không lấy cuộc họp, văn bản, báo cáo thay cho kết quả; không đo công tác tư tưởng đơn thuần bằng số tin, bài mà phải bằng chuyển biến thực tế.

3. Tạo chuyển biến thực chất về năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội trên không gian mạng

Trước hết, cần chuyển dứt khoát từ tư duy quản lý thông tin sang chủ động kiến tạo môi trường nhận thức xã hội lành mạnh. Quản lý là cần thiết nhưng không đủ, bởi thông tin trên không gian mạng vận động nhanh, xuyên biên giới và không thể chỉ xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc kỹ thuật. Công tác tư tưởng phải được triển khai liên tục từ dự báo, cung cấp thông tin, giải thích chính sách đến lắng nghe, đối thoại và đấu tranh phản bác. Mỗi chủ trương, chính sách lớn cần có phương án truyền thông ngay từ quá trình xây dựng, trong đó xác định rõ vấn đề có thể phát sinh, nhóm chịu tác động, nội dung cần giải thích, đầu mối cung cấp thông tin và trách nhiệm phản hồi. Người đứng đầu phải trực tiếp chịu trách nhiệm đối với những vấn đề lớn, phức tạp thuộc lĩnh vực, địa bàn mình quản lý.

Nắm tình hình phải gắn với phân tích và dự báo. Dữ liệu trên mạng xã hội cần được đối chiếu với phản ánh từ cơ sở, thông tin báo chí, kết quả điều tra xã hội học và các kênh tiếp nhận ý kiến của Nhân dân. Phân tích dư luận không dừng ở việc xác định nội dung nào đang được quan tâm, mà phải làm rõ nguyên nhân, trạng thái tâm lý, nhu cầu thông tin và khả năng phát triển của vấn đề. Công nghệ có thể giúp phát hiện biến động bất thường, nhận diện mô hình lan truyền hoặc cảnh báo nội dung giả mạo, nhưng kết quả do công nghệ cung cấp phải được con người kiểm chứng trong bối cảnh chính trị, xã hội cụ thể.

Cung cấp thông tin kịp thời là điều kiện giữ thế chủ động. Đối với vụ việc phức tạp hoặc thu hút sự quan tâm lớn, cần xác định rõ đầu mối phát ngôn, chế độ cập nhật và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan. Khi chưa thể công bố kết quả cuối cùng, trong phạm vi pháp luật cho phép vẫn cần thông tin về những dữ kiện đã được xác nhận, nội dung đang được kiểm tra, cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết và thời điểm dự kiến cập nhật. Không thể yêu cầu người dân chờ đợi vô thời hạn trong khi những nguồn không có trách nhiệm liên tục đưa ra lời giải thích. Quy định số 216-QĐ/TW ngày 22/8/2026 của Ban Bí thư về đặt hàng cung cấp thông tin cho cơ sở tạo cơ sở để bảo đảm thông tin thiết thực, đúng nhu cầu, đúng đối tượng và có thể sử dụng trong công tác tuyên truyền, giải thích tại cơ sở.

Thông tin chính thống đồng thời phải đổi mới cách thể hiện. Chính xác là yêu cầu trước hết, nhưng một nội dung đúng mà chậm, khó hiểu hoặc không trả lời điều công chúng quan tâm thì sức lan tỏa vẫn hạn chế. Nội dung cần ngắn gọn, rõ căn cứ, phù hợp với từng nhóm người tiếp nhận và hiện diện trên những nền tảng họ thường sử dụng. Với vấn đề chuyên sâu, cần phát huy vai trò của chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo, văn nghệ sĩ và người có uy tín để chuyển tải bằng ngôn ngữ gần gũi mà không làm sai lệch nội dung. Truyền thông chính sách phải coi khả năng giải thích là một tiêu chuẩn nghề nghiệp, không phải phần việc bổ sung sau khi chính sách đã ban hành.

Lắng nghe và giải quyết vấn đề từ thực tiễn phải trở thành một khâu của dẫn dắt nhận thức. Băn khoăn chính đáng cần được giải đáp; phản ánh có căn cứ phải được kiểm tra; kiến nghị thuộc thẩm quyền phải được chuyển đến đúng cơ quan và phản hồi kết quả. Khi thực tiễn cho thấy có hạn chế, việc thẳng thắn nhìn nhận, chỉ rõ trách nhiệm và công khai biện pháp khắc phục thường tạo dựng niềm tin tốt hơn cách giải thích vòng vo hoặc né tránh. Không gian mạng chỉ thực sự là kênh lắng nghe Nhân dân khi ý kiến được tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi bằng hành động cụ thể.

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch phải đúng đối tượng, trúng luận điểm và kịp thời. Mỗi bài viết phản bác cần chỉ rõ luận điểm nào sai, sai ở đâu, thủ pháp đánh tráo nào đã được sử dụng, căn cứ nào bác bỏ và nhận thức đúng cần được khẳng định là gì. Trọng tâm của phản bác là dữ kiện và lập luận, không phải công kích cá nhân. Cần phân biệt người cố ý tạo lập, phát tán thông tin xuyên tạc với người chia sẻ do thiếu thông tin, hiểu nhầm hoặc bị dẫn dắt. Đối với ý kiến phản biện có căn cứ, thái độ cần thiết là đối thoại và tiếp thu; đối với hành vi vi phạm pháp luật, việc xử lý phải dựa trên hành vi, lỗi, tính chất, mức độ và hậu quả cụ thể, không dựa vào nhãn gọi hoặc đánh giá cảm tính.

Cùng với đó, cần xây dựng đội ngũ làm công tác tư tưởng có bản lĩnh chính trị, nền tảng lý luận, hiểu biết pháp luật, năng lực truyền thông, tâm lý xã hội và công nghệ số. Người làm công tác này phải biết phát hiện vấn đề, viết rõ, nói đúng, giải thích thuyết phục và đối thoại bình tĩnh. Giữa cơ quan tuyên giáo và dân vận, cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng CAND, báo chí, chính quyền địa phương và doanh nghiệp cung cấp nền tảng cần có cơ chế chia sẻ thông tin, phân công đầu mối và phối hợp xử lý rõ ràng, nhất là khi xuất hiện vụ việc phức tạp hoặc nguy cơ khủng hoảng thông tin.

Đối với lực lượng CAND, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng phải gắn với chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phục vụ Nhân dân. Công tác nắm tình hình cần kết hợp chặt chẽ giữa phát hiện hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia với nhận diện tâm tư, bức xúc và nhu cầu thông tin chính đáng của người dân. Mọi biện pháp nghiệp vụ và pháp luật phải được tiến hành đúng thẩm quyền, đúng căn cứ, không đồng nhất phản biện xã hội với hành vi chống phá. Chính sự chuẩn mực, khách quan và thượng tôn pháp luật sẽ làm tăng sức thuyết phục của lực lượng Công an trong đời sống xã hội.

Học viện CSND có trách nhiệm góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ vừa vững vàng về chính trị, pháp luật và nghiệp vụ, vừa có khả năng phân tích dữ liệu, nhận diện nội dung giả mạo, đánh giá dư luận và giao tiếp trên môi trường số. Hoạt động nghiên cứu khoa học cần làm rõ cơ chế hình thành, lan truyền và biến đổi của thông tin sai lệch; phương thức thao túng nhận thức; tiêu chí phân biệt phản biện chính đáng với hoạt động xuyên tạc có tổ chức; qua đó cung cấp luận cứ cho giảng dạy, tham mưu và thực tiễn đấu tranh. Đây là lĩnh vực đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học chính trị, xã hội học, tâm lý học, truyền thông, pháp luật và khoa học dữ liệu, không thể xử lý thỏa đáng bằng kinh nghiệm đơn ngành.

Ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo là cần thiết để hỗ trợ dự báo, cảnh báo sớm, nhận diện mạng lưới phát tán và kiểm tra nội dung giả mạo. Đây là yêu cầu phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng theo Nghị quyết số 25-NQ/TW. Tuy nhiên, không được kỹ thuật hóa công tác tư tưởng. Kết quả do thuật toán cung cấp chỉ là nguồn hỗ trợ; mọi nhận định liên quan đến tổ chức, cá nhân phải được kiểm chứng và có người chịu trách nhiệm. Song song với nâng cao năng lực của cơ quan chức năng, cần trang bị cho người dân, nhất là thế hệ trẻ, kỹ năng kiểm tra nguồn, phân biệt dữ kiện với bình luận, nhận diện nội dung cắt ghép và đối chiếu thông tin trước khi chia sẻ. Một cộng đồng có khả năng tự kiểm chứng sẽ tạo ra sức đề kháng bền vững hơn bất kỳ biện pháp ngăn chặn đơn lẻ nào.

Kết luận

Năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội trên không gian mạng không được quyết định bởi việc chủ thể nào nói nhiều hơn, mà bởi thông tin nào xác thực hơn, kịp thời hơn và có sức thuyết phục hơn. Đây không phải quá trình áp đặt nhận thức, mà là quá trình tạo điều kiện để công chúng tiếp cận đủ dữ kiện, hiểu đúng bản chất vấn đề và hình thành chính kiến có trách nhiệm.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vì vậy phải chuyển mạnh từ phản ứng sau sự việc sang chủ động dự báo; từ truyền đạt một chiều sang lắng nghe, giải thích và đối thoại; từ coi trọng số lượng thông tin sang đánh giá bằng hiệu quả giải quyết vấn đề và mức độ củng cố niềm tin. Sự thật là nền tảng của nhận thức đúng, nhưng sự thống nhất giữa chủ trương, lời nói và hành động mới tạo nên niềm tin bền vững.

Khi thông tin xác thực được cung cấp kịp thời, ý kiến chính đáng được tôn trọng, hạn chế được thẳng thắn nhìn nhận và luận điệu xuyên tạc được phản bác bằng chứng cứ, công tác tư tưởng sẽ có sức thuyết phục từ chính thực tiễn. Đó là cơ sở để không gian mạng vừa trở thành địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng, vừa thực sự là kênh gắn kết Đảng, Nhà nước với Nhân dân.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

2. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

3. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

4. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.

5. Ban Bí thư (2026), Quy định số 216-QĐ/TW ngày 22/8/2026 về đặt hàng cung cấp thông tin cho cơ sở.

6. Tô Lâm (2026), Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 03/9/2026.

Thiếu tá, TS Phạm Văn Thiệu
Khoa Nghiệp vụ điều tra hình sự, Học viện CSND

 

Các tin khác

Phản bác các luận điệu phủ nhận về việc đảng viên làm kinh tế tư nhân

Tóm tắt: Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng đối với khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Việc Nghị quyết đặt kinh tế tư nhân ở vị trí "một động lực qua trọng nhất của nền kinh tế quốc gia" cho thấy sự tiếp tục hoàn thiện tư duy về huy động phân bổ và phát triển mọi nguồn lực xã hội cho phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, vấn đề đảng viên tham gia hoạt động kinh tế tư nhân cần được nhìn nhận trên cơ sở khoa học, pháp luật và Điều lệ Đảng, tránh cách hiểu đơn giản rằng hoạt động kinh doanh tư nhân đối lập với tư tưởng, mục tiêu của Đảng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đảng viên tham gia kinh tế tư nhân; nhận diện một số luận điệu phủ nhận việc đảng viên làm kinh tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay. Từ khóa: Nghị quyết số 68-NQ/TW; kinh tế tư nhân; đảng viên; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phản bác luận điệu sai trái; xây dựng Đảng.

Thư viện Video

Đáp ứng yêu cầu làm việc độc lập trong môi trường quốc tế

Đáp ứng yêu cầu làm việc độc lập trong môi trường quốc tế

(ANTV) - Sau hơn 5 năm triển khai Đề án Công an nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, đến nay lực lượng gìn giữ hoà bình của Bộ Công an đã có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt.

Thư viện Ảnh

Mới nhất