Sự phát triển của internet và mạng xã hội mở ra điều kiện thuận lợi để lưu giữ, giới thiệu và lan tỏa văn hóa Việt Nam. Nhiều di sản, nhân vật, sự kiện và giá trị tưởng như xa với đời sống hiện đại đã được trình bày bằng những hình thức mới, gần gũi hơn với công chúng. Song cũng trên không gian đó, xuất hiện không ít quan điểm lấy hiện tượng cá biệt để phủ nhận truyền thống; tuyệt đối hóa giá trị bên ngoài; xuyên tạc lịch sử; chế giễu phong tục, tiếng Việt và các biểu tượng văn hóa dân tộc.
Điều đáng lưu ý là các quan điểm này thường không bộc lộ trực diện. Chúng có thể xuất hiện dưới danh nghĩa “phản biện”, “giải thiêng”, “khai sáng” hoặc “đề cao tư duy hiện đại”. Có nội dung bắt đầu từ một hạn chế có thật, nhưng bằng cách lựa chọn dữ kiện phiến diện và khái quát tùy tiện, từng bước dẫn người tiếp nhận đến chỗ hoài nghi, coi nhẹ, thậm chí phủ nhận những giá trị đã được lịch sử kiểm chứng. Vì vậy, nhận diện đúng bản chất và phản bác bằng lập luận khoa học là yêu cầu cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ gìn bản sắc dân tộc và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian mạng.
1. Văn hóa truyền thống Việt Nam là nguồn lực tinh thần của dân tộc trong giai đoạn phát triển mới
Văn hóa truyền thống Việt Nam là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền, chọn lọc và bổ sung qua nhiều thế hệ. Những giá trị ấy được thể hiện trong tư tưởng, đạo đức, lối sống, ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng, văn học, nghệ thuật, di sản và cách con người ứng xử với gia đình, cộng đồng, đất nước và thiên nhiên.
Không nên đồng nhất văn hóa truyền thống với toàn bộ những gì từng tồn tại trong quá khứ. Truyền thống luôn có sự chọn lọc. Những giá trị phù hợp được kế thừa và phát triển; những phong tục, tập quán không còn tiến bộ phải được điều chỉnh hoặc loại bỏ. Bởi vậy, bảo vệ văn hóa truyền thống không có nghĩa là giữ nguyên mọi hình thức cũ, càng không phải khước từ đổi mới và hội nhập.
Giá trị nổi bật của văn hóa Việt Nam trước hết là lòng yêu nước gắn với ý chí độc lập, tự chủ. Trong những thời điểm khó khăn nhất, chính tình cảm đối với quê hương, đất nước và ý thức về cộng đồng dân tộc đã quy tụ con người Việt Nam thành một sức mạnh chung. Cùng với đó là đạo lý nhân nghĩa, tinh thần đoàn kết, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, coi trọng gia đình, đề cao việc học và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Những giá trị này không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử mà vẫn hiện diện trong cách xã hội ứng xử trước thiên tai, dịch bệnh, khó khăn và những nhiệm vụ chung của đất nước.
Trong giai đoạn phát triển mới, văn hóa càng có ý nghĩa như một nguồn lực nội sinh. Một quốc gia có thể tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản trị và thành tựu văn minh từ bên ngoài, nhưng khó có thể phát triển bền vững nếu thiếu hệ giá trị tạo nên bản lĩnh, niềm tin và sự gắn kết xã hội. Hội nhập càng sâu rộng càng đòi hỏi dân tộc phải hiểu rõ mình là ai, cần kế thừa điều gì và lựa chọn những giá trị nào để bước tiếp.
Sức sống của văn hóa truyền thống không nằm ở việc lặp lại nguyên trạng những hình thức của quá khứ. Nó được thể hiện ở khả năng chuyển hóa những giá trị bền vững thành phẩm chất của con người Việt Nam hôm nay. Lòng yêu nước phải được thể hiện bằng trách nhiệm đối với đất nước; tinh thần hiếu học phải trở thành năng lực học tập suốt đời; ý thức cộng đồng phải gắn với trách nhiệm công dân; truyền thống tự cường phải được cụ thể hóa bằng khát vọng làm chủ tri thức và công nghệ.
Nhìn nhận như vậy giúp tránh được hai thái cực: hoặc tuyệt đối hóa quá khứ, coi mọi yếu tố truyền thống đều bất biến; hoặc lấy danh nghĩa hiện đại để phủ nhận những giá trị đã tạo nên căn tính và sức mạnh của dân tộc.
2. Nhận diện các quan điểm phủ nhận giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trên không gian mạng
Quan điểm phủ nhận giá trị văn hóa truyền thống trước hết biểu hiện ở việc đồng nhất truyền thống với lạc hậu. Từ một số hủ tục, biểu hiện mê tín, gia trưởng hoặc tâm lý cục bộ vẫn còn tồn tại, người ta quy kết toàn bộ văn hóa truyền thống là nguyên nhân cản trở tiến bộ xã hội. Lập luận này đánh tráo giữa giá trị văn hóa với những biểu hiện lệch chuẩn hoặc yếu tố đã lỗi thời. Một tập quán không còn phù hợp cần được thay đổi, nhưng sự tồn tại của nó không thể là căn cứ để phủ nhận lòng yêu nước, đạo lý nhân nghĩa, tinh thần cộng đồng và truyền thống hiếu học.
Một dạng khác là tuyệt đối hóa giá trị bên ngoài, lấy mô hình phát triển hoặc lối sống của một số quốc gia làm chuẩn mực duy nhất để đánh giá văn hóa Việt Nam. Từ đó, những nét riêng trong quan hệ gia đình, cộng đồng, đạo lý và lối sống của người Việt bị xem là thấp kém hoặc không còn giá trị. Đây là cách nhìn giản đơn. Không có nền văn hóa nào phát triển bằng việc tự tách khỏi cội nguồn của mình. Tiếp thu tinh hoa nhân loại là cần thiết, nhưng tiếp thu phải có chọn lọc, phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội và hệ giá trị của dân tộc.
Trên không gian mạng còn xuất hiện việc nhân danh “giải thiêng” để hạ thấp nhân vật lịch sử, xuyên tạc sự kiện và phủ nhận những biểu tượng chung của cộng đồng. Nghiên cứu lại lịch sử trên cơ sở tư liệu mới và phương pháp khoa học là việc bình thường, thậm chí cần thiết. Nhưng cắt một chi tiết khỏi hoàn cảnh lịch sử, sử dụng nguồn không được kiểm chứng hoặc lấy giả thuyết thay cho chứng cứ không phải là tinh thần khoa học. Khi cách làm đó được lặp lại có chủ ý, mục tiêu không còn là tìm hiểu lịch sử mà là gieo rắc hoài nghi, làm suy giảm niềm tự hào và sự gắn bó với dân tộc.
Một thủ đoạn thường gặp là lấy hiện tượng cá biệt để khái quát bản chất. Từ một lễ hội bị thương mại hóa, một hành vi ứng xử thiếu văn hóa hoặc một vụ việc tiêu cực trong đời sống gia đình, các chủ thể đưa ra kết luận về sự “xuống cấp”, “lỗi thời” của toàn bộ văn hóa Việt Nam. Đây là lỗi lập luận rõ ràng. Những biểu hiện sai lệch phải được phê phán, nhưng phải phân biệt chúng với giá trị bị làm sai lệch. Không thể lấy hành vi vụ lợi trong lễ hội để phủ nhận đời sống tín ngưỡng; lấy biểu hiện gia trưởng để bác bỏ giá trị gia đình; hoặc từ cách ứng xử của một cá nhân để quy kết phẩm chất của cả cộng đồng.
Cùng với đó là xu hướng chế giễu tiếng Việt, trang phục, nghệ thuật, phong tục và biểu tượng văn hóa dân tộc để thu hút tương tác. Dưới hình thức hài hước hoặc giải trí, nội dung xuyên tạc có thể được chia sẻ rộng mà người sử dụng không nhận thấy đầy đủ tác động của nó. Khi những giá trị văn hóa liên tục bị biến thành đối tượng giễu nhại, một bộ phận người trẻ có thể hình thành tâm lý coi nhẹ truyền thống và xa lạ với chính di sản của dân tộc mình.
Các quan điểm phủ nhận văn hóa truyền thống thường sử dụng một số cách thức chung: lựa chọn dữ kiện có lợi cho kết luận đã định trước; tách sự việc khỏi bối cảnh; pha trộn cái có thật với bình luận sai lệch; tạo ra sự đối lập giả tạo giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Nội dung thường được diễn đạt ngắn, gây sốc, đánh vào cảm xúc và lặp lại qua nhiều tài khoản. Trí tuệ nhân tạo còn có thể bị lợi dụng để tạo lập hình ảnh, âm thanh, video giả, khiến người tiếp nhận khó phân biệt bằng cảm quan thông thường.
Tuy nhiên, nhận diện quan điểm phủ nhận văn hóa truyền thống không thể chỉ dựa vào việc một ý kiến có khác với quan điểm phổ biến hay không. Cần kiểm tra nguồn thông tin, căn cứ được sử dụng, bối cảnh của sự việc, phương pháp lập luận và mục đích truyền tải. Phải phân biệt phản biện có căn cứ với xuyên tạc; phân biệt phê phán hủ tục với phủ nhận truyền thống; phân biệt nghiên cứu lại lịch sử với cố ý bóp méo lịch sử. Không quy chụp ý kiến khác biệt là điều kiện để cuộc đấu tranh có sức thuyết phục; nhưng tôn trọng khác biệt cũng không đồng nghĩa với chấp nhận sự xuyên tạc dưới danh nghĩa phản biện.
3. Phản bác quan điểm phủ nhận văn hóa truyền thống phải bằng tri thức, chứng cứ và thực tiễn
Trước hết, phải xây dựng nhận thức đúng về văn hóa truyền thống. Không thể bảo vệ truyền thống chỉ bằng tình cảm hoặc những lời khẳng định chung chung. Mỗi giá trị cần được làm rõ về nguồn gốc, nội dung, ý nghĩa lịch sử và khả năng đóng góp đối với đời sống hiện nay. Việc thẳng thắn chỉ ra những yếu tố không còn phù hợp không làm suy yếu truyền thống; trái lại, giúp phân biệt rõ đâu là giá trị cần bảo vệ, đâu là hủ tục cần loại bỏ.
Hoạt động phản bác phải đi thẳng vào luận điểm sai. Với quan điểm cho rằng truyền thống cản trở hiện đại hóa, cần chứng minh khả năng chuyển hóa lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, hiếu học và tự cường thành động lực phát triển. Với nội dung xuyên tạc lịch sử, phải đối chiếu bằng sử liệu và kết quả nghiên cứu đáng tin cậy. Với cách lấy hiện tượng cá biệt để phủ nhận cả nền văn hóa, cần chỉ ra sự thiếu logic trong phương pháp khái quát. Phản bác chắc nhất là làm rõ chỗ sai bằng chứng cứ, không thay thế lập luận bằng thái độ.
Ngôn ngữ phản bác cần rõ ràng, điềm tĩnh và có văn hóa. Công kích cá nhân, sử dụng những nhãn gọi nặng nề hoặc suy diễn động cơ khi chưa đủ căn cứ chỉ làm tăng đối đầu và giảm sức thuyết phục. Cần phân biệt chủ thể cố ý xuyên tạc, tổ chức phát tán nội dung sai lệch với người tiếp nhận hoặc chia sẻ do thiếu thông tin. Mỗi trường hợp đòi hỏi cách ứng xử khác nhau: giải thích, cung cấp thông tin, đính chính, phản bác hoặc xử lý theo pháp luật khi có đủ căn cứ.
Phản bác cũng không nên chỉ được tiến hành sau khi một nội dung sai lệch đã lan rộng. Cần chủ động tạo ra nguồn thông tin có chất lượng về lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam. Những công trình nghiên cứu nghiêm túc phải được chuyển tải bằng ngôn ngữ dễ hiểu, hình thức phù hợp với môi trường số và cách tiếp nhận của từng nhóm công chúng. Di sản sẽ khó đến gần người trẻ nếu chỉ được giới thiệu bằng những khái niệm khô cứng. Mỗi giá trị cần được kể bằng con người, sự kiện và câu chuyện có thật, để công chúng nhận ra truyền thống vẫn đang hiện diện trong đời sống hôm nay.
Vai trò của báo chí, cơ sở giáo dục, nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ, người có uy tín và người sáng tạo nội dung cần được phát huy đúng mức. Không gian văn hóa trên mạng không thể được xây dựng chỉ bằng hoạt động của cơ quan quản lý. Nó cần sự tham gia của những người có tri thức, khả năng diễn đạt và ảnh hưởng xã hội. Khi nội dung đúng được thể hiện sinh động, gần gũi và có chiều sâu, nó sẽ tự tạo sức lan tỏa, thay vì chỉ tồn tại như một thông điệp mang tính tuyên truyền.
Đối với lực lượng CAND, cần gắn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với bảo vệ an ninh văn hóa và xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh. Trọng tâm là chủ động nắm tình hình, phát hiện phương thức lợi dụng vấn đề lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, kích động; phối hợp với cơ quan văn hóa, báo chí và cơ sở nghiên cứu kiểm tra, cung cấp thông tin; tham mưu xử lý từ sớm những vấn đề có thể ảnh hưởng đến ANTT. Đối với hành vi vi phạm pháp luật, việc xử lý phải dựa trên nội dung, mục đích, tính chất, mức độ, hậu quả và chứng cứ cụ thể, không xuất phát từ sự khác biệt về cách nhìn văn hóa.
Về lâu dài, cần hình thành năng lực tự nhận diện và phản biện trong xã hội. Người sử dụng mạng phải biết kiểm tra nguồn, đối chiếu tư liệu và phân biệt dữ kiện với bình luận. Nhà trường không chỉ truyền đạt kiến thức về lịch sử, văn hóa mà cần giúp người học hiểu ý nghĩa của di sản đối với cuộc sống hiện tại. Khi hiểu vì sao một giá trị cần được trân trọng, người trẻ sẽ tự giác bảo vệ truyền thống thay vì tiếp nhận như một yêu cầu bên ngoài.
Sức thuyết phục cuối cùng vẫn nằm ở thực tiễn. Không thể bảo vệ giá trị văn hóa bằng lời nói nếu những biểu hiện thương mại hóa di sản, biến tướng lễ hội, ứng xử thiếu văn hóa hoặc lợi dụng tín ngưỡng không được chấn chỉnh. Mỗi di sản được bảo tồn đúng cách, mỗi hành vi đẹp được nuôi dưỡng và mỗi lệch chuẩn được khắc phục đều là một câu trả lời cụ thể trước quan điểm phủ nhận văn hóa truyền thống Việt Nam.
Kết luận
Văn hóa truyền thống Việt Nam không phải là phần quá khứ đứng ngoài đời sống hiện đại. Đó là mạch nguồn góp phần hình thành bản lĩnh, nhân cách và sức mạnh tinh thần của dân tộc. Bảo vệ truyền thống không phải giữ lại mọi yếu tố cũ, mà là nhận diện đúng những giá trị bền vững, loại bỏ điều không còn phù hợp và làm cho các giá trị tốt đẹp tiếp tục sống trong con người Việt Nam hôm nay.
Đấu tranh với quan điểm phủ nhận văn hóa truyền thống trên không gian mạng phải dựa trên tri thức, chứng cứ và thái độ đối thoại có trách nhiệm. Kiên quyết với sự xuyên tạc nhưng không quy chụp phản biện; trân trọng quá khứ nhưng không lý tưởng hóa truyền thống; chủ động hội nhập nhưng không đánh mất bản sắc. Khi những giá trị tốt đẹp được hiện thực hóa trong đời sống, văn hóa Việt Nam không chỉ được bảo vệ mà còn tiếp tục trở thành nguồn lực nội sinh, góp phần đưa đất nước phát triển vững vàng trong thời kỳ mới.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
2. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
3. Bộ Chính trị (2020), Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Nguyễn Phú Trọng (2021), “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
7. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
8. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
9. Quốc hội (2018), Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 ngày 12/6/2018.
10. Chính phủ (2022), Nghị định số 53/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng.
11. Chính phủ (2024), Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09/11/2024 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.
12. Phan Ngọc (2004), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
13. Ngô Đức Thịnh (2023), Hệ giá trị văn hóa Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội.
14. Trần Ngọc Thêm (2023), Cơ sở văn hóa Việt Nam, tái bản lần thứ chín, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
15. Báo Nhân Dân (2026), “Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị”, ngày 03/9/2026.