Chống diễn biến hòa bình
Thứ Sáu, 4/9/2026 10:27'(GMT+7)

Phản bác các luận điệu phủ nhận về việc đảng viên làm kinh tế tư nhân

Trong tiến trình đổi mới, nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân không ngừng được bổ sung và phát triển. Từ chỗ kinh tế tư nhân chưa được nhìn nhận đầy đủ trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đường lối đổi mới từng bước xác lập nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại khách quan và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong gần 40 năm đổi mới đã cho thấy đây không phải là một khu vực kinh tế đứng ngoài tiến trình xây dựng đất nước. Kinh tế tư nhân huy động các nguồn lực trong xã hội, tạo việc làm, đóng góp ngân sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, mở rộng thị trường và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế. Chính phủ đánh giá khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế và có đóng góp ngày càng lớn đối với tăng trường, việc làm, ngân sách, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết xác định mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia", đồng thời đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và khơi thông các nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, cùng với quá trình triển khai Nghị quyết, có thể xuất hiện những cách diễn giải phiến diện, thậm chí cố tình xuyên tạc, cho rằng việc đảng viên tham gia kinh tế tư nhân là biểu hiện "xa rời chủ nghĩa xã hội", "tư nhân hóa Đảng" hoặc có thể dẫn đến việc đảng viên đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của Đảng và Nhà nước. Những lập luận như vậy cần được nhận diện và phản bác trên cơ sở lý luận, lịch sử phát triển của đường lối đổi mới hệ thống pháp luật hiện hành.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá quan điểm của Đảng ta về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân không phải mới xuất hiện, mà đã bị các thế lực thù địch đưa ra ngay từ khi Đảng ta bắt đầu hình thành chủ trương này, đặc biệt là vào thời điểm trước, trong và sau Đại hội X của Đảng, và sau đó là khi Ban Chấp hành Trung ương khóa X ban hành Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28-8-2006 về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Ở thời điểm đó, hàng loạt các bài nói, bài viết, các cuộc trao đổi, phỏng vấn của các phần tử chống đối Đảng và Nhà nước ta trên các trang báo chí phản động ở nước ngoài đã xuyên tạc cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận cho đảng viên làm kinh tế tư nhân là “dấu hiệu cho thấy sự thay đổi bản chất”, là “từ bỏ và phản bội những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng”, là “thừa nhận ngầm con đường tư bản chủ nghĩa”, là “cho phép đảng viên được bóc lột”... Những luận điệu này chỉ thực sự lắng xuống khi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ta đều bày tỏ sự đồng thuận cao với chủ trương của Đảng về vấn đề đảng viên được làm kinh tế tư nhân, đồng thời qua thực tiễn chứng minh, chủ trương này là hoàn toàn đúng đắn, đem lại động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước và cho chính sự phát triển vững mạnh của Đảng ta.

1. Khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế không mâu thuẫn với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đặc trưng, bản chất của chủ nghĩa xã hội.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi lực lượng sane xuất chưa đạt tới trình độ phát triển cao, chưa đủ điều kiện thiết lập sự chi phối hoàn toàn của quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, thì sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế là tất yếu khách quan. Ở mỗi giai đoạn phát triển, tùy theo trình độ của lực lượng sản xuất, các hình thức sở hữu khác nhau - từ tàn dư xũ, yếu tố trung gian đến những mầm mống mới của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa - sẽ cùng tồn tại, tác động, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau, nhằm "tạo nên một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết", "tăng cường lực lượng sản xuất", tiến tới khi quan hệ sở hửu xã hội chủ nghĩa trở thành thống trị. Theo V.I.Lênin, trong quá trình đó, Nhà nước Xôviết giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiểm tra, kiểm soát, bảo đảm cho khu vực tư bản không thể chi phối hoặc làm lệch hướng nền kinh tế khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là sự ra đời của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế là kết quả của cả quá trình đổi mới nhận thức mô hình kinh tế ở Việt Nam. Ngay từ Đại hội VI, Đảng đã từng bước thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần. Qua các kỳ Đại hội tiếp theo, kinh tế tư nhân ngày càng được xác định rõ hơn về vị trí và vai trò. Đến các nhiệm kỳ gần đây, kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm về Nghị quyết số 68 cũng khái quát quá trình này, trong đó nhấn mạnh sự phát triển nhận thức của Đảng từ việc thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân đến khuyến khích, tạo điều kiện và phát huy vai trò của khu vực này. Nghị quyết số 68 tiếp tục phát triển tư duy đó ở tầm chiến lược. Nếu trước đây vấn đề chủ yếu là thừa nhận và "tạo điều kiện" cho kinh tế tư nhân phát triển thì hiện nay trọng tâm được chuyển mạnh sang bảo vệ quyền tài sản, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, khơi thông nguồn lực và tạo môi trường thuận lợi để khu vực tư nhân phát triển nhanh, bền vững. Các nội dung này được đặt trong tổng thể nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Như vậy, phát triển kinh tế tư nhân không đồng nghĩa với thay đổi bản chất của chế độ kinh tế - chính trị ở Việt Nam. Ngược lại, đây là một phương thức huy động và phát huy nguồn lực phù hợp với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới.

2. Đảng viên làm kinh tế tư nhân không đồng nghĩa với từ bỏ lý tưởng của Đảng

Một trong những luận điệu cần bác bỏ là quan điểm cho rằng: "Đảng viên làm kinh tế tư nhân thì không còn là người cộng sản chân chính".

Lập luận này xuất phát từ cách đồng nhất một cách máy móc giữa hình thức sở hữu tư nhân với lập trường chính trị, đạo đức và mục tiêu của người đảng viên.

Về phương diện khoa học, cần phân biệt hoạt động kinh tế với lập trường chính trị. Một người tham gia hoạt động kinh doanh hợp pháp không vì thế mà mặc nhiên thay đổi mục tiêu chính trị hoặc từ bỏ trách nhiệm xã hội. Việc một đảng viên tham gia sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm, dịch vụ, việc làm và đóng góp nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước về bản chất là một hoạt động kinh tế được pháp luật thừa nhận. Đảng viên không phải là một chủ thể đứng ngoài đời sống kinh tế. Đảng viên trước hết cũng là công dân, có quyền và nghĩa vụ theo Hiến pháp và pháp luật. Nếu pháp luật cho phép công dân tham gia một hoạt động kinh tế hợp pháp thì việc tham gia hoạt động đó không thể tự động bị quy kết là trái với định hướng chính trị. Điểm quyết định nằm ở cách thức tiến hành hoạt động kinh tế và việc tuân thủ các giới hạn pháp lý, kỷ luật. Một đảng viên kinh doanh bằng năng lực, vốn, lao động và sáng tạo của mình; chấp hành pháp luật về thuế, lao động, môi trường, cạnh tranh; tôn trọng quyền lợi người lao động; không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi thì không thể bị đồng nhất với người lợi dụng vị trí công tác để phục vụ lợi ích kinh doanh cá nhân.

3. Phản bác luận điệu “kinh tế tư nhân đối lập với chủ nghĩa xã hội”

Đây là luận điệu có tính khái quát cao nhưng thiếu căn cứ nếu đặt trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Cần nhìn nhận rằng mô hình kinh tế của Việt Nam không phải là mô hình chỉ tồn tại một hình thức sở hữu duy nhất. Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc điểm quan trọng của quá trình đổi mới. Các thành phần kinh tế cùng tồn tại, hợp tác và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước. Nghị quyết số 68 tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân trong tổng thể nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết không đặt kinh tế tư nhân đối lập với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể mà yêu cầu phát huy vai trò của các khu vực kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất. Vì vậy, việc quy kết “có kinh tế tư nhân thì không thể có chủ nghĩa xã hội” là cách tiếp cận giản đơn, không phản ánh đầy đủ đặc điểm của mô hình kinh tế Việt Nam. Bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ được xác định bởi câu hỏi “ai sở hữu doanh nghiệp”, mà còn phải được xem xét ở mục tiêu phát triển, thể chế quản lý, chính sách phân phối, bảo đảm an sinh xã hội, quyền và lợi ích của người lao động, vai trò quản lý của Nhà nước và mục tiêu phát triển con người. Nói cách khác, vấn đề không phải là phủ nhận kinh tế tư nhân, mà là xây dựng thể chế để kinh tế tư nhân phát triển đúng pháp luật, cạnh tranh lành mạnh và đóng góp cho lợi ích chung.

4. Phản bác luận điệu “đảng viên làm kinh tế tất yếu dẫn đến đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của Đảng và Nhà nước”

Đây là một lập luận đánh đồng giữa động cơ lợi ích cá nhân và hoạt động kinh tế hợp pháp. Trong kinh tế học, lợi ích cá nhân là một động lực quan trọng thúc đẩy con người đầu tư, lao động, sáng tạo và chịu trách nhiệm đối với kết quả hoạt động của mình. Vấn đề của Nhà nước pháp quyền không phải là xóa bỏ mọi động cơ lợi ích cá nhân, mà là xây dựng thể chế để lợi ích cá nhân được thực hiện trong giới hạn pháp luật và hài hòa với lợi ích xã hội.

Một doanh nhân kinh doanh thành công có thể vừa thu được lợi ích chính đáng cho bản thân, vừa tạo việc làm, đóng thuế, cung cấp sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy đổi mới công nghệ và đóng góp cho cộng đồng. Bởi vậy, không thể lấy việc một đảng viên có lợi ích kinh tế hợp pháp từ hoạt động kinh doanh để kết luận rằng người đó đã đặt lợi ích cá nhân đối lập với lợi ích quốc gia. Điều đáng phê phán là những trường hợp sử dụng quyền lực công để tạo lợi thế bất chính cho doanh nghiệp của mình hoặc người thân; lợi dụng chức vụ để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh; tham nhũng, lợi ích nhóm, trốn thuế, gian lận hoặc vi phạm quyền lợi người lao động. Đây là những hành vi cần được xử lý nghiêm minh. Nhưng cần khẳng định: sai phạm nằm ở hành vi vi phạm pháp luật và kỷ luật, không nằm ở bản thân việc tham gia kinh tế tư nhân.

5. Không được đánh đồng “đảng viên làm kinh tế tư nhân” với “lợi dụng quyền lực để kinh doanh”

Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình triển khai Nghị quyết số 68. Bảo đảm quyền tham gia kinh tế tư nhân của đảng viên không có nghĩa là buông lỏng kiểm soát quyền lực. Ngược lại, việc mở rộng không gian kinh tế tư nhân càng đòi hỏi hệ thống kiểm soát quyền lực, minh bạch và phòng chống xung đột lợi ích phải được hoàn thiện. Có thể phân biệt ba trường hợp. Thứ nhất, đảng viên tham gia hoạt động kinh tế tư nhân trong phạm vi pháp luật cho phép, không lợi dụng vị trí công tác và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý. Đây là hoạt động kinh tế hợp pháp. Thứ hai, đảng viên có hoạt động kinh tế nhưng phát sinh vấn đề về đạo đức, trách nhiệm hoặc xung đột lợi ích. Trường hợp này cần được nhận diện, kiểm soát và xử lý theo các quy định có liên quan. Thứ ba, đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thông tin hoặc quan hệ công tác để tạo lợi ích bất chính cho bản thân, doanh nghiệp hoặc người có liên quan. Đây là hành vi phải bị xử lý theo pháp luật và kỷ luật Đảng. Sự phân biệt này có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng.

6. Ý nghĩa của việc đảng viên tham gia kinh tế tư nhân trong thực hiện Nghị quyết.

Nếu được đặt trong khuôn khổ pháp luật và kỷ luật Đảng, sự tham gia của đảng viên vào khu vực kinh tế tư nhân có thể tạo ra nhiều giá trị tích cực. Thứ nhất, đảng viên có điều kiện trực tiếp trải nghiệm thực tiễn sản xuất, kinh doanh và thị trường. Điều này giúp bổ sung góc nhìn thực tiễn cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Thứ hai, đảng viên làm doanh nghiệp có thể trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng văn hóa kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghị quyết số 68 đặt mục tiêu khu vực tư nhân trở thành lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thứ ba, doanh nhân là đảng viên có thể góp phần hình thành đội ngũ doanh nhân có trách nhiệm xã hội, kinh doanh bằng pháp luật, coi trọng chữ tín và gắn lợi ích doanh nghiệp với lợi ích của đất nước. Thứ tư, sự tham gia của đảng viên vào kinh tế tư nhân góp phần xóa bỏ định kiến cho rằng hoạt động kinh doanh chỉ thuần túy hướng đến lợi nhuận cá nhân. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, doanh nghiệp vừa phải bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa phải tuân thủ pháp luật, thực hiện trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.

7. Một số giải pháp đấu tranh phản bác các luận điệu phủ nhận

Để đấu tranh hiệu quả với các luận điệu sai trái liên quan đến vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, cần tập trung vào một số giải pháp.

Một là, thống nhất nhận thức về Nghị quyết số 68-NQ/TW. Cần làm rõ đây là bước phát triển trong tư duy kinh tế của Đảng, kế thừa quá trình đổi mới chứ không phải sự phủ nhận đường lối trước đây.

Hai là, tăng cường giáo dục lý luận gắn với thực tiễn. Việc tuyên truyền không nên chỉ dừng ở việc nhắc lại quan điểm mà phải giải thích được vì sao kinh tế tư nhân có thể trở thành một động lực của nền kinh tế trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, phân biệt quyền kinh doanh với hành vi lợi dụng quyền lực. Đây là nội dung có tính thuyết phục cao nhất trong phản bác. Không nên bảo vệ một cách máy móc mọi hoạt động kinh doanh của đảng viên; cần bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp đồng thời kiên quyết xử lý mọi hành vi tham nhũng, lợi ích nhóm và vi phạm pháp luật.

Bốn là, tăng cường công khai, minh bạch và kiểm soát xung đột lợi ích. Khi cơ chế kiểm soát quyền lực tốt, những lo ngại về việc đảng viên sử dụng vị trí chính trị để tạo lợi thế kinh doanh sẽ được hạn chế.

Năm là, sử dụng bằng chứng thực tiễn thay cho tranh luận cảm tính. Đóng góp của kinh tế tư nhân đối với việc làm, ngân sách, đổi mới công nghệ, xuất khẩu và tăng trưởng là những dữ liệu quan trọng để đánh giá khách quan vai trò của khu vực này.

Sáu là, chủ động nhận diện những hạn chế thực tế của kinh tế tư nhân. Phản bác luận điệu sai trái không đồng nghĩa với phủ nhận những vấn đề tồn tại. Các hiện tượng trốn thuế, gian lận thương mại, vi phạm môi trường, bóc lột lao động, thao túng thị trường hay lợi ích nhóm phải được nhìn nhận khách quan và xử lý nghiêm minh. Chính việc thẳng thắn thừa nhận và giải quyết những vấn đề này sẽ làm cho lập luận phản bác có cơ sở khoa học hơn.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là một bước phát triển quan trọng trong tư duy và chính sách kinh tế của Đảng, phù hợp với yêu cầu huy động và phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển đất nước. Nghị quyết xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời đặt khu vực này trong tổng thể nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ góc độ đó, luận điệu cho rằng đảng viên tham gia kinh tế tư nhân tất yếu là “xa rời lý tưởng”, “đối lập với chủ nghĩa xã hội” hoặc “phản bội bản chất của Đảng” là cách nhìn phiến diện, đánh đồng giữa hình thức hoạt động kinh tế với lập trường chính trị và đạo đức của cá nhân. Điều cần khẳng định không phải là mọi hoạt động kinh doanh của đảng viên đều mặc nhiên đúng, mà là quyền tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp cần được phân biệt rõ với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

2. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 138/NQ-CP về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW.

3. Tổng Bí thư Tô Lâm (2025), Động lực mới cho phát triển kinh tế, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

4. Tổng Bí thư Tô Lâm (2025), Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW.

5. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025), Tổng thuật Hội nghị toàn quốc triển khai Nghị quyết 66-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW.

6. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Làm rõ tư duy đột phá phát triển kinh tế tư nhân từ Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Các tin khác

Thư viện Video

Đáp ứng yêu cầu làm việc độc lập trong môi trường quốc tế

Đáp ứng yêu cầu làm việc độc lập trong môi trường quốc tế

(ANTV) - Sau hơn 5 năm triển khai Đề án Công an nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, đến nay lực lượng gìn giữ hoà bình của Bộ Công an đã có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt.

Thư viện Ảnh

Mới nhất