Chống diễn biến hòa bình
Thứ Hai, 10/8/2026 10:41'(GMT+7)

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề an ninh mạng để chống phá sự nghiệp chuyển đổi số quốc gia

Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã trở thành xu thế phát triển tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, xác định mục tiêu phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, góp phần đổi mới phương thức quản trị quốc gia, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân. Tiếp đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tiếp tục khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng trong việc đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thực tiễn cho thấy, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Hạ tầng số từng bước được hoàn thiện; các nền tảng số quốc gia được đẩy mạnh triển khai; dịch vụ công trực tuyến ngày càng phát triển; dữ liệu số trở thành nguồn tài nguyên quan trọng phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế và cung cấp các tiện ích cho người dân, doanh nghiệp. Chuyển đổi số không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước mà còn tạo ra những cơ hội mới cho tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Đồng thời, đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu. Lợi dụng những khó khăn, thách thức phát sinh trong quá trình ứng dụng công nghệ số, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đã gia tăng các hoạt động chống phá trên không gian mạng với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Chúng cố tình đồng nhất những nguy cơ, rủi ro khách quan về an ninh mạng với bản chất của quá trình chuyển đổi số; xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bóp méo các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu, an ninh mạng và quản lý không gian mạng nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, lo lắng trong một bộ phận quần chúng nhân dân. Thông qua các nền tảng mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến và các trang thông tin có nội dung chống đối, các đối tượng này không ngừng phát tán thông tin sai sự thật, kích động dư luận, từng bước thực hiện âm mưu làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và sự thành công của công cuộc chuyển đổi số quốc gia.

Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đúng bản chất các luận điệu sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề an ninh mạng để chống phá sự nghiệp chuyển đổi số quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững an ninh quốc gia trên không gian mạng mà còn góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện thắng lợi các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

1. Chuyển đổi số quốc gia và yêu cầu bảo đảm an ninh mạng trong tình hình hiện nay

Chuyển đổi số quốc gia là quá trình ứng dụng đồng bộ các thành tựu của khoa học, công nghệ số nhằm thay đổi căn bản phương thức quản lý, điều hành, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ trong toàn xã hội. Đây không đơn thuần là việc số hóa các dữ liệu hoặc đưa các hoạt động truyền thống lên môi trường điện tử mà còn là quá trình đổi mới toàn diện về tư duy quản trị, mô hình hoạt động và phương thức phát triển. Đối với Việt Nam, chuyển đổi số được xác định là một trong những động lực quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát huy tiềm năng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời tạo nền tảng cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của chuyển đổi số, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm định hướng và thúc đẩy quá trình này. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số và xã hội số. Trên cơ sở đó, nhiều chương trình, đề án, chiến lược quốc gia về phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, chính phủ số, kinh tế số và xã hội số đã được triển khai đồng bộ trên phạm vi cả nước. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một trong những đột phá chiến lược, là động lực quan trọng để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Từ thực tiễn triển khai, chuyển đổi số đã và đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh và xác thực điện tử từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết thủ tục hành chính, giảm chi phí xã hội, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Các dịch vụ công trực tuyến được mở rộng; thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh mẽ; hoạt động thương mại điện tử, giáo dục trực tuyến, y tế số và nhiều lĩnh vực khác ngày càng trở nên phổ biến. Những kết quả đó cho thấy chuyển đổi số không phải là xu hướng mang tính lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội to lớn, chuyển đổi số cũng làm xuất hiện nhiều nguy cơ, thách thức liên quan đến an ninh mạng. Khi các hoạt động của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân ngày càng phụ thuộc vào môi trường số, không gian mạng trở thành địa bàn hoạt động của nhiều loại tội phạm và các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Các hành vi tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin quan trọng, hành vi đánh cắp dữ liệu cá nhân, phát tán mã độc, lừa đảo trực tuyến, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng có chiều hướng diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động cũng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, phát tán thông tin sai sự thật, kích động tư tưởng chống đối và gây mất ổn định xã hội.

Cần khẳng định rằng, những nguy cơ về an ninh mạng không phải là hiện tượng riêng có của Việt Nam mà là thách thức chung đối với tất cả các quốc gia đang thực hiện chuyển đổi số. Trên thực tế, ngay cả những quốc gia có trình độ phát triển công nghệ hàng đầu thế giới cũng thường xuyên đối mặt với các vụ tấn công mạng quy mô lớn, rò rỉ dữ liệu hoặc các hoạt động can thiệp trên không gian mạng. Điều đó cho thấy vấn đề đặt ra không phải là từ bỏ hoặc làm chậm quá trình chuyển đổi số, mà là phải đồng thời xây dựng các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin phù hợp với yêu cầu phát triển của từng quốc gia.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định bảo đảm an ninh mạng là bộ phận không thể tách rời của quá trình chuyển đổi số quốc gia. Việc ban hành Luật An ninh mạng năm 2018, cùng với nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn hệ thống thông tin và bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, các lực lượng chuyên trách về an ninh mạng, an toàn thông tin tiếp tục củng cố, tăng cường năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trong tình hình mới.

Mặc dù vậy, chính những yêu cầu khách quan về bảo đảm an ninh mạng trong quá trình chuyển đổi số lại đang bị các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Chúng cố tình bóp méo bản chất của các chính sách bảo đảm an ninh mạng, quy chụp rằng Việt Nam đang sử dụng các biện pháp quản lý không gian mạng để hạn chế quyền tự do dân chủ của công dân hoặc cản trở sự phát triển của công nghệ số. Đây là những luận điệu sai trái, thiếu căn cứ khoa học và cần được nhận diện, đấu tranh phản bác một cách kịp thời, hiệu quả.

2. Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề an ninh mạng để chống phá sự nghiệp chuyển đổi số quốc gia

Trong quá trình triển khai các chủ trương, chính sách về chuyển đổi số quốc gia, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị luôn coi không gian mạng là môi trường thuận lợi để thực hiện các hoạt động chống phá. Chúng triệt để khai thác tâm lý lo ngại của một bộ phận người dân trước những nguy cơ mất an toàn thông tin, lộ lọt dữ liệu cá nhân, tấn công mạng hoặc các vấn đề phát sinh trong quá trình ứng dụng công nghệ số để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặc dù được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song các luận điệu này đều hướng tới mục tiêu làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và cản trở tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Việc nhận diện đầy đủ các luận điệu sai trái là cơ sở quan trọng để đấu tranh phản bác có hiệu quả.

Một là, luận điệu cho rằng các chính sách bảo đảm an ninh mạng của Việt Nam nhằm hạn chế quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin của công dân. Các đối tượng chống đối thường xuyên xuyên tạc rằng Luật An ninh mạng, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản lý nền tảng xuyên biên giới hay xác thực danh tính điện tử là công cụ để kiểm soát người dân và thu hẹp các quyền tự do dân chủ.

Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái. Hiến pháp năm 2013 khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật. Các quy định về an ninh mạng không nhằm hạn chế các quyền này mà nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và Nhà nước trước các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Thực tế cho thấy, hầu hết các quốc gia đều ban hành các quy định quản lý không gian mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xử lý thông tin sai sự thật nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Vì vậy, việc quy kết các chính sách an ninh mạng của Việt Nam là “đàn áp tự do” chỉ là sự xuyên tạc có chủ đích nhằm phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước trên không gian mạng.

Hai là, luận điệu cho rằng chuyển đổi số làm gia tăng nguy cơ mất an toàn dữ liệu nên cần hạn chế hoặc làm chậm quá trình chuyển đổi số. Các đối tượng chống đối thường lợi dụng một số vụ việc rò rỉ dữ liệu, lừa đảo công nghệ cao hoặc sự cố an toàn thông tin để quy kết rằng chuyển đổi số là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến mất an toàn dữ liệu cá nhân và đe dọa an ninh quốc gia. Từ đó, chúng cổ súy quan điểm hạn chế hoặc làm chậm tiến trình chuyển đổi số ở Việt Nam.

Đây là cách nhìn phiến diện, thiếu cơ sở khoa học. Thực tế, nguy cơ mất an toàn dữ liệu không bắt nguồn từ bản chất của chuyển đổi số mà chủ yếu xuất phát từ các hành vi tấn công mạng, vi phạm quy định về bảo mật hoặc hạn chế trong công tác quản trị an toàn thông tin. Hơn nữa, chính chuyển đổi số đang tạo điều kiện để nâng cao năng lực bảo vệ dữ liệu thông qua việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, xác thực điện tử và mã hóa dữ liệu. Vì vậy, giải pháp đặt ra không phải là làm chậm chuyển đổi số mà là tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường đầu tư cho hạ tầng an ninh mạng và nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Ba là, luận điệu xuyên tạc rằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và định danh điện tử là công cụ để Nhà nước theo dõi, kiểm soát người dân. Lợi dụng việc triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống định danh điện tử, một số tổ chức, cá nhân chống đối tung ra các thông tin sai sự thật, cho rằng Nhà nước thu thập dữ liệu cá nhân nhằm giám sát đời sống của người dân, từ đó kích động tâm lý lo ngại và hoài nghi trong xã hội.

Đây là luận điệu thiếu căn cứ. Thực tế, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và định danh điện tử là xu hướng phổ biến ở nhiều quốc gia nhằm hiện đại hóa quản lý nhà nước, đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tại Việt Nam, việc thu thập, quản lý và khai thác dữ liệu công dân được thực hiện theo quy định của pháp luật và được bảo vệ bằng các cơ chế kỹ thuật, pháp lý phù hợp. Những kết quả tích cực từ việc triển khai Đề án 06 đã khẳng định hiệu quả của việc kết nối, chia sẻ dữ liệu trong cải cách hành chính và phục vụ người dân. Vì vậy, việc quy chụp các hệ thống dữ liệu quốc gia là công cụ “kiểm soát xã hội” thực chất chỉ là thủ đoạn nhằm cản trở tiến trình chuyển đổi số và làm giảm niềm tin của nhân dân đối với các chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, luận điệu cho rằng các quy định về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân đang cản trở hoạt động của doanh nghiệp, làm suy giảm môi trường đầu tư và đổi mới sáng tạo. Theo các đối tượng chống đối, việc yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin sẽ làm tăng chi phí hoạt động, giảm khả năng cạnh tranh và kìm hãm sự phát triển của kinh tế số.

Đây là sự ngụy biện nhằm tạo ra sự đối lập giả tạo giữa phát triển kinh tế số và bảo đảm an ninh mạng. Trên thực tế, không có môi trường số nào có thể phát triển bền vững nếu thiếu các cơ chế bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin. Đối với doanh nghiệp, dữ liệu là tài sản quan trọng cần được bảo vệ trước các nguy cơ tấn công mạng, đánh cắp hoặc sử dụng trái phép. Nhiều quốc gia có nền kinh tế số phát triển đều áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin. Do đó, việc Việt Nam hoàn thiện khung pháp lý về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân không phải là rào cản mà là điều kiện cần thiết để xây dựng môi trường kinh doanh số an toàn, minh bạch và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Năm là, luận điệu cho rằng các nguy cơ tấn công mạng, lừa đảo công nghệ cao và rò rỉ dữ liệu chứng minh sự thất bại của công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Mỗi khi xảy ra các vụ tấn công mạng, lừa đảo trực tuyến hoặc lộ lọt dữ liệu, các thế lực thù địch lại lợi dụng để xuyên tạc rằng Việt Nam không đủ năng lực thực hiện chuyển đổi số, từ đó phủ nhận tính đúng đắn của chủ trương này.

Đây là cách nhìn phiến diện, thiếu cơ sở thực tiễn. Sự gia tăng của tội phạm sử dụng công nghệ cao là thách thức chung đối với hầu hết các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế số và xã hội số. Điều quan trọng không phải là có hay không các nguy cơ an ninh mạng, mà là năng lực phòng ngừa, phát hiện và xử lý các nguy cơ đó. Thời gian qua, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường năng lực bảo vệ an ninh mạng và đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm công nghệ cao. Điều đó cho thấy chuyển đổi số và bảo đảm an ninh mạng luôn được triển khai đồng bộ, không ngừng thích ứng với yêu cầu thực tiễn.

Như vậy, các luận điệu sai trái, thù địch liên quan đến an ninh mạng và chuyển đổi số đều nhằm mục đích xuyên tạc chủ trương của Đảng, gây hoang mang dư luận và làm suy giảm niềm tin xã hội. Do đó, việc nhận diện, đấu tranh và phản bác kịp thời các quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo đảm thực hiện hiệu quả các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.

3. Những thành tựu thực tiễn khẳng định tính đúng đắn của chủ trương chuyển đổi số quốc gia gắn với bảo đảm an ninh mạng

Thực tiễn triển khai chuyển đổi số quốc gia trong thời gian qua đã khẳng định tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ nguy cơ tấn công mạng, lộ lọt dữ liệu và các hoạt động chống phá trên không gian mạng, Việt Nam vẫn đạt được nhiều kết quả quan trọng trên cả ba trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Trước hết, hệ thống hạ tầng số và cơ sở dữ liệu quốc gia tiếp tục được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử, cùng nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả, góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều dịch vụ công thiết yếu được cung cấp trên môi trường điện tử, giúp nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và tăng tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, kinh tế số Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ phát triển tích cực, trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Hoạt động thương mại điện tử, thanh toán số, ngân hàng số, logistics thông minh và nhiều mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ số không ngừng mở rộng. Chuyển đổi số đang tạo ra môi trường rất thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Cùng với việc thúc đẩy chuyển đổi số, công tác bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin cũng được quan tâm triển khai đồng bộ. Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện; năng lực của các lực lượng chuyên trách về an ninh mạng được tăng cường; nhiều chiến dịch đấu tranh, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao, các đường dây lừa đảo trực tuyến và hoạt động phát tán thông tin xấu độc trên không gian mạng đã đạt được những kết quả tích cực. Điều đó cho thấy Việt Nam hoàn toàn có khả năng vừa thúc đẩy chuyển đổi số, vừa bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân trên môi trường số.

Những kết quả đạt được là minh chứng sinh động bác bỏ các luận điệu xuyên tạc cho rằng chuyển đổi số quốc gia đang làm gia tăng bất ổn xã hội, đe dọa quyền lợi của người dân hoặc cản trở sự phát triển của đất nước. Ngược lại, thực tiễn cho thấy chuyển đổi số đang tạo ra những giá trị thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề an ninh mạng để chống phá sự nghiệp chuyển đổi số quốc gia

Trước sự chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch trên không gian mạng, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc liên quan đến chuyển đổi số quốc gia cần được thực hiện thường xuyên, chủ động và đồng bộ với nhiều giải pháp phù hợp.

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, ý nghĩa của chuyển đổi số quốc gia gắn với bảo đảm an ninh mạng. Nội dung tuyên truyền cần làm rõ bản chất, mục tiêu, lợi ích và những thành tựu thực tiễn của chuyển đổi số; đồng thời giúp người dân nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật trên không gian mạng. Khi nhận thức xã hội được nâng cao, các luận điệu chống phá sẽ khó có điều kiện tác động, lôi kéo hoặc gây hoang mang trong dư luận.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh và xử lý các hoạt động lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp chuyển đổi số quốc gia. Các cơ quan chức năng cần chủ động theo dõi, phân tích, đánh giá các xu hướng thông tin trên môi trường số; kịp thời phát hiện các chiến dịch truyền thông sai lệch, các tài khoản, hội nhóm có dấu hiệu chống phá để có biện pháp xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật. Đồng thời, cần tăng cường cung cấp thông tin chính thống, kịp thời định hướng dư luận xã hội đối với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm phát sinh trong quá trình chuyển đổi số.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các cơ chế bảo vệ an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại số. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Đây cũng là cơ sở quan trọng để bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc cho rằng Việt Nam thiếu minh bạch hoặc lạm dụng các biện pháp quản lý an ninh mạng.

Bốn là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Bên cạnh việc phản bác trực diện các luận điệu sai trái, cần tăng cường xây dựng, lan tỏa những thông tin tích cực, những thành tựu nổi bật của công cuộc chuyển đổi số quốc gia và bảo đảm an ninh mạng. Việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống” sẽ góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo sự thuận và huy động sức mạnh của toàn dân trong thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.

Chuyển đổi số quốc gia là chủ trương lớn, mang tầm chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm tạo động lực mới cho phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong quá trình triển khai chủ trương này, việc xuất hiện những nguy cơ, thách thức về an ninh mạng là điều khách quan, không thể tránh khỏi đối với bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đã cố tình lợi dụng những vấn đề đó để xuyên tạc, bóp méo bản chất của chuyển đổi số, kích động tâm lý hoài nghi và chống phá sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Thực tiễn phát triển của đất nước trong thời gian qua đã khẳng định rõ tính đúng đắn của đường lối chuyển đổi số quốc gia gắn với bảo đảm an ninh mạng. Những kết quả đạt được trên các lĩnh vực quản trị nhà nước, phát triển kinh tế số, xã hội số và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là minh chứng thuyết phục bác bỏ các luận điệu sai trái, thù địch. Vì vậy, việc chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức xã hội và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm sự thành công của sự nghiệp chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn phát triển mới của đất nước./.

Đại tá, PGS.TS. LÊ QUANG TOÀN
Trưởng Khoa Nghiệp vụ Điều tra hình sự, Học viện CSND
Thiếu tá, TS. NGUYỄN ĐỨC HUỲNH
Khoa Nghiệp vụ Điều tra hình sự, Học viện CSND

Các tin khác

Thư viện Video

Thủ đoạn lừa đảo đầu tư tiền mã hóa "lợi nhuận cao"

Thủ đoạn lừa đảo đầu tư tiền mã hóa "lợi nhuận cao"

(ANTV) - Thời gian gần đây, các đối tượng lừa đảo trên không gian mạng tiếp tục sử dụng thủ đoạn mời chào người dân tham gia đầu tư tiền mã hóa, tiền kỹ thuật số với cam kết lợi nhuận cao. Bằng nhiều phương thức tạo dựng lòng tin, dẫn dụ nạn nhân chuyển tiền đầu tư, các đối tượng đã chiếm đoạt số tiền lớn, có trường hợp từ hàng trăm triệu đồng đến hàng chục tỷ đồng.

Thư viện Ảnh

Mới nhất