Chống diễn biến hòa bình
Thứ Ba, 22/9/2026 10:42'(GMT+7)

Phản bác luận điệu lợi dụng sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc bản chất, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

Những luận điệu đó dễ tác động đến tâm lý xã hội vì thường không phủ nhận hoàn toàn sự thật. Chúng bắt đầu từ một vụ việc có thật, một cán bộ có sai phạm hoặc một hạn chế đã được cơ quan có thẩm quyền chỉ ra, sau đó cắt sự việc khỏi bối cảnh, cường điệu mặt tiêu cực và dẫn dắt người tiếp nhận đến một kết luận mang động cơ chính trị. Muốn phản bác có sức thuyết phục, không thể né tránh sai phạm, càng không thể chỉ dùng những lời khẳng định chung. Cần phân tích đúng mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức, hiện tượng với bản chất; đồng thời lấy kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực và phục vụ Nhân dân làm căn cứ thực tiễn.

1. Cơ sở khoa học để phân biệt sai phạm của cán bộ, đảng viên với bản chất của Đảng

Cán bộ là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng tổ chức và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Mỗi sai phạm của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu, vì thế không dừng ở hậu quả do một cá nhân gây ra. Nó có thể làm tổn hại lợi ích của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức và ảnh hưởng đến niềm tin xã hội.

Thẳng thắn nhìn nhận hậu quả đó là yêu cầu của thái độ chính trị nghiêm túc. Nếu xem nhẹ sai phạm, né tránh trách nhiệm hoặc giải thích khiên cưỡng, công tác phản bác sẽ mất đi cơ sở đạo lý và sức thuyết phục. Tuy nhiên, từ sai phạm của một số người để quy kết về bản chất của cả một chính đảng lại là cách suy luận không có căn cứ khoa học.

Bản chất của một đảng chính trị không được xác định bằng hành vi lệch chuẩn của từng cá nhân, mà phải được xem xét từ nền tảng tư tưởng, mục tiêu, đường lối, nguyên tắc tổ chức, cơ sở xã hội, phương thức hoạt động và những lợi ích mà đảng đó đại diện, bảo vệ. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Đó là cơ sở để nhận diện bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của Đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng cũng không được khẳng định bằng lời tự nhận, mà được lịch sử và thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, tiến hành công cuộc đổi mới và từng bước nâng cao vị thế quốc gia. Những thành tựu ấy là kết quả của đường lối đúng đắn, sức mạnh của Nhân dân và sự cống hiến, hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên. Không thể lấy sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận để phủ nhận đóng góp của đội ngũ cán bộ, đảng viên đang tận tụy làm việc vì lợi ích chung.

Cũng không thể đồng nhất người vi phạm với tổ chức đã phát hiện và xử lý người vi phạm. Cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, tham nhũng hoặc xâm phạm lợi ích của Nhà nước và Nhân dân là đã đi ngược lại mục tiêu, lý tưởng, Điều lệ và kỷ luật của Đảng. Hành vi ấy không đại diện cho bản chất của Đảng; trái lại, là đối tượng phải được đấu tranh, ngăn chặn và loại bỏ khỏi bộ máy. Không có logic nào cho phép lấy hành vi mà Đảng nghiêm cấm, kiên quyết xử lý để quy kết thành bản chất của chính Đảng.

Dẫu vậy, phản bác sự xuyên tạc không có nghĩa là xem mọi sai phạm đều chỉ là hành vi cá nhân, không liên quan đến trách nhiệm của tổ chức. Có những vụ việc kéo dài, xảy ra trong nhiều khâu hoặc có sự cấu kết của nhiều người, qua đó bộc lộ sơ hở trong cơ chế, hạn chế của công tác cán bộ, sự buông lỏng kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu. Nếu chỉ quy mọi vi phạm về sự suy thoái của cá nhân mà không làm rõ nguyên nhân từ tổ chức và cơ chế thì chưa nhận diện đầy đủ vấn đề.

Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng hệ thống chính trị; yêu cầu kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái [2]. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng [1]. Điều đó cho thấy Đảng không né tránh khuyết điểm, cũng không dừng ở xử lý cá nhân, mà hướng tới khắc phục những nguyên nhân làm phát sinh sai phạm, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và nâng cao năng lực của tổ chức đảng.

Việc có cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, bị xử lý không tự nó chứng minh sự suy thoái của toàn bộ hệ thống. Con số người bị kỷ luật hoặc xử lý hình sự phải được nhìn nhận trên hai phương diện: phản ánh tính chất nghiêm trọng của những sai phạm đã xảy ra, đồng thời thể hiện quyết tâm phát hiện, xử lý và tự chỉnh đốn. Điều cần đánh giá không chỉ là có bao nhiêu người vi phạm, mà còn là tổ chức có dám nhìn thẳng vào sự thật, xử lý khách quan, không có vùng cấm; có thu hồi tài sản, khắc phục hậu quả và sửa chữa những sơ hở đã làm phát sinh sai phạm hay không.

Năng lực tự phát hiện, tự sửa chữa khuyết điểm là một trong những biểu hiện quan trọng của bản lĩnh và sức chiến đấu của một đảng cầm quyền. Uy tín của Đảng không nằm ở lời khẳng định rằng tổ chức không có khuyết điểm, mà được tạo dựng từ thái độ không che giấu sai phạm, khả năng loại bỏ những người không còn đủ tư cách và quyết tâm bảo vệ lợi ích của Nhân dân.

2. Nhận diện thủ đoạn quy chụp từ sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm xuyên tạc bản chất, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

Các luận điệu lợi dụng sai phạm của cán bộ, đảng viên thường được xây dựng trên một phần sự thật. Thay vì bịa đặt hoàn toàn, các đối tượng lựa chọn vụ việc có thật, tách khỏi bối cảnh, lược bỏ những thông tin không có lợi cho kết luận đã định sẵn rồi cường điệu mặt tiêu cực. Sự pha trộn giữa dữ kiện đúng với cách diễn giải sai khiến loại luận điệu này dễ gây nhầm lẫn hơn những lời xuyên tạc thô thiển.

Thủ đoạn phổ biến nhất là biến cái cá biệt thành cái phổ biến. Từ sai phạm của một số cán bộ, họ suy diễn rằng đội ngũ cán bộ nói chung đều thoái hóa; từ một số vụ án tham nhũng, quy kết tham nhũng là bản chất của chế độ; từ hạn chế tại một cơ quan hoặc địa phương, phủ nhận năng lực lãnh đạo của toàn Đảng. Đây là sai lầm trong phạm vi suy luận: thuộc tính của một bộ phận bị chuyển thành thuộc tính của toàn thể mà không có căn cứ chứng minh.

Một cách đánh tráo khác là đồng nhất người vi phạm với tổ chức xử lý vi phạm. Khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra và xử lý cán bộ sai phạm, các đối tượng lại sử dụng chính kết quả đó để công kích Đảng. Nếu ít vụ việc được phát hiện, họ cho rằng có sự bao che; khi nhiều vụ việc bị xử lý, họ quy kết bộ máy đã suy thoái toàn diện. Cách lập luận được sắp đặt để bất kỳ kết quả nào cũng dẫn tới một kết luận tiêu cực, vì vậy không nhằm tìm hiểu sự thật mà nhằm gieo rắc hoài nghi.

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn bị xuyên tạc thành đấu đá nội bộ hoặc thanh trừng phe phái. Những nhận định này thường không dựa trên hồ sơ, chứng cứ và kết quả giải quyết vụ án, mà suy diễn động cơ chính trị từ việc một số cán bộ bị xử lý. Mục đích là xóa nhòa ranh giới giữa đấu tranh chống sai phạm với tranh giành quyền lực, qua đó phủ nhận tính chính danh của hoạt động kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố và xét xử.

Một thủ pháp thường gặp khác là lựa chọn thông tin có chủ ý: nhấn mạnh chức vụ của người vi phạm nhưng lược bỏ hành vi, hậu quả và căn cứ xử lý; liên tục nhắc lại sai phạm nhưng không đề cập việc thu hồi tài sản, khắc phục hậu quả và hoàn thiện thể chế; tập trung vào số người bị kỷ luật nhưng bỏ qua đóng góp của đông đảo cán bộ đang làm việc liêm chính. Khi chỉ một nửa sự thật được đưa ra, nửa sự thật ấy có thể trở thành công cụ dẫn dắt nhận thức sai lệch.

Các đối tượng đặc biệt chú ý khai thác tâm trạng bức xúc chính đáng của người dân trước những vụ việc nghiêm trọng. Sự phẫn nộ đối với tham nhũng, tiêu cực là phản ứng xã hội cần được tôn trọng. Nhưng từ yêu cầu xử lý cán bộ sai phạm chuyển sang phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng là bước chuyển có chủ ý về mục tiêu chính trị. Vì vậy, cần phân biệt ý kiến phản ánh, phê bình, giám sát có căn cứ với thông tin vu cáo hoặc lợi dụng sai phạm để chống phá.

Nếu mọi nghi ngờ, chất vấn đều bị quy kết là thù địch, công tác đấu tranh tư tưởng sẽ mất sức thuyết phục và có thể làm thu hẹp kênh tiếp nhận thông tin từ Nhân dân. Có phản ánh ban đầu chưa đầy đủ, cách diễn đạt còn gay gắt, nhưng nội dung nêu ra vẫn cần được kiểm tra. Đối thoại bằng chứng cứ, giải quyết đúng vấn đề và công khai kết quả trong phạm vi cho phép là cách phân định thuyết phục nhất giữa phản biện có trách nhiệm với hoạt động xuyên tạc có tổ chức.

Mặt khác, không thể chỉ viện dẫn những thành tựu trong quá khứ để trả lời mọi vấn đề của hiện tại. Thành tựu lịch sử là cơ sở khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, nhưng không phải lý do để xem nhẹ hạn chế đang tồn tại. Uy tín chính trị chỉ được củng cố bền vững khi Đảng tiếp tục chứng minh năng lực phát hiện sai phạm, sửa chữa khuyết điểm và đáp ứng những yêu cầu chính đáng của Nhân dân.

Bản chất của những luận điệu này không nằm ở việc phê phán một cán bộ hay một vụ việc cụ thể, mà ở chỗ lợi dụng sự việc để phủ nhận toàn bộ hệ thống, chuyển bức xúc xã hội thành thái độ đối lập về chính trị. Nhận diện đúng bước chuyển đó giúp việc phản bác đi thẳng vào luận điểm sai, không né tránh sự thật nhưng cũng không để sự thật bị bóp méo thành công cụ chống phá.

3. Nâng cao sức thuyết phục của công tác phản bác bằng kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kiểm soát quyền lực

Phản bác các luận điệu sai trái trước hết phải dựa trên lập luận đúng, nhưng sức nặng cuối cùng vẫn nằm ở thực tiễn. Không một bài viết hay chiến dịch truyền thông nào có thể thay thế kết quả cụ thể của công tác xây dựng Đảng, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Xử lý nghiêm một vụ việc, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, khắc phục sơ hở trong quản lý và giải quyết thỏa đáng một vấn đề bức xúc của Nhân dân có giá trị thuyết phục hơn nhiều lời khẳng định chung chung.

Trước hết, cần tiếp tục kiểm soát chặt chẽ quyền lực, nhất là trong những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như công tác cán bộ, quản lý đất đai, đầu tư công, tài chính và tài sản công. Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị đã xác định trách nhiệm của tập thể, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên trong kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ [3]. Quy định số 189-QĐ/TW ngày 08/10/2024 tiếp tục đặt ra cơ chế kiểm soát quyền lực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công, gắn trách nhiệm của tổ chức với trách nhiệm của người đứng đầu và người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ [5].

Kiểm soát quyền lực không chỉ là xử lý sau khi sai phạm đã xảy ra. Quan trọng hơn là thiết kế cơ chế để quyền lực được thực hiện đúng thẩm quyền, có sự giám sát và có thể kiểm tra. Trách nhiệm phải được xác định rõ từ khâu đề xuất, thẩm định, quyết định đến tổ chức thực hiện; không để tình trạng quyền lực tập trung nhưng trách nhiệm phân tán, đến khi xảy ra sai phạm thì khó xác định chủ thể chịu trách nhiệm. Cấp ủy, tổ chức đảng phải chủ động phát hiện dấu hiệu bất thường, không chờ hậu quả nghiêm trọng mới tiến hành kiểm tra.

Cùng với kiểm soát quyền lực, phải xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, năng lực và đạo đức công vụ. Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị đã xác lập các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới [4]. Những chuẩn mực ấy chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được cụ thể hóa trong thực thi nhiệm vụ, đánh giá cán bộ và xem xét trách nhiệm; không thể dừng ở đăng ký, cam kết hoặc sinh hoạt hình thức. Người đứng đầu phải nêu gương bằng hành động, chịu trách nhiệm về quyết định của mình, không đẩy trách nhiệm cho tập thể khi có sai phạm.

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cho thấy chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng được triển khai bằng những hành động cụ thể. Năm 2025, các ban chỉ đạo cấp tỉnh đã đưa gần 100 vụ án, vụ việc vào diện theo dõi, chỉ đạo; 98 người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu bị xử lý trách nhiệm, trong đó 46 trường hợp bị xử lý hình sự. Trong sáu tháng đầu năm 2026, Quốc hội và Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành gần 300 văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trương mới, khắc phục sơ hở, tháo gỡ điểm nghẽn và tăng cường kiểm soát quyền lực [6].

Những con số đó không phải để tạo cảm giác bằng lòng. Chúng đồng thời phản ánh tính chất nghiêm trọng của sai phạm và khối lượng công việc còn phải tiếp tục thực hiện. Nhưng đây cũng là chứng cứ bác bỏ nhận định cho rằng Đảng dung túng sai phạm hoặc không có khả năng tự chỉnh đốn. Điều quan trọng là sau mỗi vụ việc, trách nhiệm được làm rõ, tài sản được thu hồi, sơ hở được khắc phục và cơ chế phòng ngừa được hoàn thiện đến đâu.

Công tác thông tin phải được tiến hành chủ động, chính xác và có trách nhiệm. Khi xảy ra vụ việc được dư luận quan tâm, khoảng trống thông tin dễ trở thành môi trường cho tin giả và suy diễn lan truyền. Cơ quan có thẩm quyền cần sớm cung cấp những thông tin đã được kiểm chứng; giải thích rõ tính chất vụ việc, căn cứ xử lý và trách nhiệm của các chủ thể liên quan; đồng thời công bố kết quả khắc phục trong phạm vi pháp luật cho phép. Minh bạch không chỉ để đáp ứng nhu cầu thông tin mà còn thể hiện thái độ tôn trọng Nhân dân.

Nội dung phản bác phải đi thẳng vào luận điểm sai, sử dụng chứng cứ cụ thể và lập luận có thể kiểm chứng. Với thông tin chưa đầy đủ, cần bổ sung dữ kiện; với nhận định sai, cần chỉ ra sai ở tiền đề hay kết luận; với nội dung bịa đặt, phải công bố căn cứ xác thực để bác bỏ. Không nên thay việc chứng minh bằng những lời lên án nặng nề, càng không nên công kích hoặc quy chụp người nêu ý kiến. Sự bình tĩnh, chính xác và công khai là điều kiện để tiếng nói chính thống tạo được niềm tin.

Đối với lực lượng Công an nhân dân, hiệu quả phản bác trước hết được thể hiện qua chất lượng thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Điều tra khách quan, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và xử lý nghiêm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn là những đóng góp trực tiếp vào việc bảo vệ uy tín của Đảng, Nhà nước. Quá trình giải quyết vụ án phải đồng thời bảo đảm yêu cầu cung cấp thông tin với giữ bí mật nhà nước, bí mật điều tra và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Lực lượng Công an nhân dân cần chủ động phát hiện hoạt động cắt ghép tài liệu, giả mạo phát ngôn, xuyên tạc kết quả xử lý vụ án hoặc lợi dụng sai phạm của cán bộ để kích động chống đối. Việc áp dụng biện pháp pháp luật phải căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ và hậu quả cụ thể; không đồng nhất ý kiến phản ánh, phê bình có căn cứ với hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải giữ gìn phẩm chất, kỷ luật, văn hóa ứng xử và tinh thần phục vụ Nhân dân. Hành vi đúng đắn trong thực thi công vụ là sự phản bác trực tiếp và thường xuyên nhất đối với những luận điệu xuyên tạc.

Đối với Học viện CSND, cần tăng cường nghiên cứu các phương thức lợi dụng vụ án, vụ việc và sai phạm của cán bộ để thao túng nhận thức xã hội; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác đấu tranh phản bác. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần giúp học viên biết phân biệt giữa phản ánh chính đáng, thông tin chưa đầy đủ, luận điệu xuyên tạc và hành vi vi phạm pháp luật; biết kiểm tra nguồn tin, đánh giá chứng cứ, phân tích lập luận và lựa chọn cách ứng xử phù hợp.

Bên cạnh kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, cần chú trọng rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và văn hóa đối thoại. Người cán bộ Công an không thể bảo vệ uy tín của Đảng, Nhà nước bằng phát ngôn thiếu chuẩn mực, thông tin chưa được kiểm chứng hoặc cách tranh luận áp đặt. Sức thuyết phục phải bắt đầu từ sự gương mẫu và tinh thần trách nhiệm trong từng hành vi công vụ.

Sai phạm của cán bộ, đảng viên phải được nhìn nhận đúng mức, làm rõ nguyên nhân và xử lý nghiêm minh. Song lấy hành vi của một bộ phận cán bộ đã đi ngược lại mục tiêu, lý tưởng và kỷ luật của Đảng để xuyên tạc bản chất, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là sự đánh tráo giữa cá nhân với tổ chức, giữa hiện tượng với bản chất.

Phản bác sự xuyên tạc ấy không thể chỉ bằng việc khẳng định bản chất tốt đẹp của Đảng hoặc nhắc lại những thành tựu đã đạt được. Câu trả lời có sức nặng nhất là tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiểm soát chặt chẽ quyền lực; xử lý nghiêm sai phạm; cung cấp thông tin có trách nhiệm; lắng nghe Nhân dân và giải quyết thực chất những vấn đề đặt ra từ cuộc sống. Uy tín của Đảng được khẳng định bằng bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm và không ngừng nâng cao năng lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

[2]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021), Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

[3]. Bộ Chính trị (2023), Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

[4]. Bộ Chính trị (2024), Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

[5]. Bộ Chính trị (2024), Quy định số 189-QĐ/TW ngày 08/10/2024 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

[6]. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (2025, 2026), Thông báo kết quả Phiên họp thứ 29 và Phiên họp thứ 30 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thiếu tá, TS Phạm Văn Thiệu
Khoa Nghiệp vụ điều tra hình sự, Học viện CSND

Các tin khác

Vai trò của lực lượng Công an trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của Internet, mạng xã hội đã trở thành môi trường quan trọng để người dân tiếp cận, trao đổi và chia sẻ thông tin. Tuy nhiên, hiện nay không gian mạng đang bị các thế lực thù địch, đối tượng chống đối và một số cá nhân lợi dụng để phát tán thông tin sai trái, xuyên tạc, kích động, gây hoang mang trong xã hội, tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, qua đó tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, lực lượng Công an giữ vai trò quan trọng trong nắm tình hình, nhận diện, phát hiện, tham mưu, tuyên truyền, đấu tranh và xử lý góp phần phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Bài viết phân tích vai trò của lực lượng Công an trong lĩnh vực này, chỉ ra một số hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác trong tình hình mới. Từ khóa: Lực lượng Công an/quan điểm sai trái/thù địch/không gian mạng/đấu tranh phản bán/an ninh mạng.

Thư viện Video

Đáp ứng yêu cầu làm việc độc lập trong môi trường quốc tế

Đáp ứng yêu cầu làm việc độc lập trong môi trường quốc tế

(ANTV) - Sau hơn 5 năm triển khai Đề án Công an nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, đến nay lực lượng gìn giữ hoà bình của Bộ Công an đã có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt.

Thư viện Ảnh

Mới nhất